Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T,

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản số: 209/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18/6/2025

Về việc: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BÌNH ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Thái và ông Đỗ Nhật Tân

-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Tô Tấn Cường– Cán bộ Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định.

-Đại diện VKSND huyện T tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Định – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 98/2025/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 03 năm 2025, về việc: “Xin ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 20 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 969/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 05 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị D, sinh năm 1995, có mặt.

CCCD: 52195014590

Địa chỉ: Thôn L, xã Ph1, huyện T, tỉnh Bình Định.

Bị đơn: Tô Hoàng Thanh L1, sinh năm 1992, vắng mặt.

CMND: [...]

Địa chỉ: Thôn Q, xã Ph1, huyện T, tỉnh Bình Định

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại các bản khai và tại phiên tòa hôm nay Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày: Giữa chị với Tô Hoàng Thanh L1 tự tìm hiểu thời gian, chung sống từ năm 2012, đến năm 2015, anh chị có con đến năm 2016 mới đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chị chỉ ở nhà phía của anh L1 03 ngày, xong chị về phía nhà cha mẹ chị ở. Sau đó anh L1 đi làm trong Sài Gòn, vài tháng về thì chị theo anh về nhà cha mẹ anh ở, một thời gian sau khi anh L1 đi làm thì chị lại về phía nhà cha mẹ chị ở. Quá trình chung sống như vậy anh L1 không đưa tiền nuôi con, mạnh ai nấy sống, sau khi chị sinh đứa con nhỏ thì chị có yêu cầu anh gửi tiền nuôi con thì 02 năm nay anh L1 có gửi về cho chị mỗi tháng 1.500.000₫, anh L1 lâu nay không gọi điện hỏi thăm gì đến con. Thời gian gần đây anh L1 về còn gây sự với chị. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc nên lúc mới có 02 con là cháu H và cháu H1 thì vợ chồng chị ly thân nên giao mỗi người nuôi mỗi đứa, sau đó vợ chồng chị lại có thêm cháu H2. Tuy nhiên vợ chồng chị không chung sống 01 thời gian dài nên không còn tình cảm với nhau, anh L1 ngoại tình, có chung sống với nhiều người khác, khi còn ở nhà anh, anh L1 có quen chị Hảo, chị có bắt gặp, nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và mạnh ai nấy sống. Đến nay chị xét thấy không còn tình thương với anh L1 nên chị xin ly hôn anh L1. Về con chung: Vợ chồng chị có 03 con chung tên là Tô Hoàng Gia H, sinh ngày 10/5/2015, Tô Huy H1, sinh ngày 17/01/2017, Tô Hoàng H2, sinh ngày 14/3/2021, hiện cháu H đang ở cùng anh L1, còn cháu H1 và cháu H2 đang ở cùng chị. Nay ly hôn chị xin nuôi cháu H1 và cháu H2, còn cháu H giao cho anh L1. Về cấp dưỡng thì chị không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết, vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra chị D không khai và không yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn Tô Hoàng Thanh L1 vắng mặt tại phiên tòa. Mặc dù Tòa án đã tiến hành thực hiện việc tống đạt và niêm yết nhiều lần theo quy định pháp luật nhưng bị đơn anh L1 vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị D.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định:

  • Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81,82,83 của Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị D ly hôn với anh L1.Về quan hệ nuôi con chung: Chị D và anh L1 có 03 con chung tên là Tô Hoàng Gia H, sinh ngày 10/5/2015, Tô Huy H1, sinh ngày 17/01/2017, Tô Hoàng H2, sinh ngày 14/3/2021, hiện cháu H đang ở cùng anh L1, còn H1 và H2 đang ở cùng chị D. Đề nghị giao 02 con chung tên là H1 và H2 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu H cho anh L1 là phù hợp với nguyện vọng của các con. Về cấp dưỡng: chị D không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nên đề nghị Tòa không xét. Về quan hệ tài sản chung: Chị D khai tự thỏa thuận tài sản chung, không yêu cầu giải quyết, không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Tô Hoàng Thanh L1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là anh Tô Hoàng Thanh L1 cư trú tại Thôn Quảng Vân, xã Ph1, huyện T, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn anh L1 vẫn cố tình vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
  2. Về nội dung vụ án:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị D thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa chị Nguyễn Thị D và anh Tô Hoàng Thanh L1 tự tìm hiểu và tự nguyện kết hôn từ năm 2012, có đăng ký kết hôn số 76, ngày 30/6/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Ph1, huyện T, tỉnh Bình Định nên hôn nhân giữa chị D và anh L1 là hợp pháp. Theo chị D khai trong thời gian sống chung, anh L1 đi làm xa một vài tháng mới về nhà, anh L1 sống chung với người khác, không có trách nhiệm với gia đình, không lo cho vợ con, không gửi tiền về nuôi con. Nay chị D xác định không còn tình cảm với anh L1 nên xin ly hôn anh L1. Trong khi Tòa án tiến hành niêm yết các thủ tục về việc xin ly hôn của chị D tại địa phương nơi anh L1 cư trú nhưng anh L1 vẫn không đến Tòa, cũng không có bản trình bày ý kiến. Điều này chứng tỏ anh L1 không mong muốn hàn gắn cuộc hôn nhân này. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của chị D và biên bản xác minh cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh L1 đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cho chị D được ly hôn anh L1.
    2. Về quan hệ nuôi con chung: Giữa chị D và anh L1 có 03 con chung tên là Tô Hoàng Gia H,sinh ngày 10/5/2015, Tô Huy H1, sinh ngày 17/01/2017, Tô Hoàng H2, sinh ngày 14/3/2021, hiện cháu H đang ở cùng anh L1, còn cháu H1 và cháu H2 đang ở cùng chị D. Nay ly hôn chị D xin nuôi 02 con là cháu H1 và cháu H2, giao cháu H cho anh L1 và không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị D là phù hợp với nguyện vọng của hai cháu H, cháu H1 và phù hợp với quy định pháp luật nên giao cháu H1 và cháu H2 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu H cho anh L1 trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Tòa không xét.
    3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị D khai không có tài sản chung, về nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết, nên Tòa không xét.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn để sung vào Ngân sách Nhà nước. Tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp được khấu trừ vào án phí.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 BLTTDS; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị D ly hôn anh Tô Hoàng Thanh L1.
  2. Về quan hệ nuôi con chung: Chị D và anh L1 có 03 con chung tên là Tô Hoàng Gia H, sinh ngày 10/5/2015, Tô Huy H1, sinh ngày 17/01/2017, Tô Hoàng H2, sinh ngày 14/3/2021, hiện cháu H đang ở cùng anh L1, còn cháu H1 và cháu H2 đang ở cùng chị D.Giao cháu H cho anh L1 trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu H1 và cháu H2 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Tòa không xét. Bên không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết các bên có quyền làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như tiền cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về quan hệ tài sản chung: Tòa không xét.
  4. Về án phí DSST: Buộc chị D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, để sung vào Ngân sách Nhà nước. Tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp 300.000₫ theo biên lai thu tiền số 0003096, ngày 25/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T được khấu trừ vào tiền án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại Tòa được quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 18/6/2025). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành. Nếu bên phải thi hành không thực hiện nghĩa vụ đã tuyên thì bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 tương ứng thời gian chậm thi hành.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện T;
  • - CCTHADS huyện T;
  • - Phòng KTNV -TAND tỉnh BĐ;
  • - UBND xã Ph1
  • (số 76 Ngày 30/6/2016)
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Bích Thủy

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán–Chủ Tọa Phiên Tòa

Đặng Văn Thái

Đỗ Nhật Tân

Trần Thị Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BÌNH ĐỊNH về xin ly hôn

  • Số bản án: 209/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger