|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 209/2024/KDTM-ST
Ngày: 22/8/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Đoan Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Nhanh
2. Bà Trần Thị Ngọc Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Kim Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thuận Hoà – Kiểm sát viên.
Vào các ngày 13 và 22 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 81/2018/TLST-KDTM ngày 18/6/2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3831/2024/QĐXXST-KDTM ngày 10/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH V2
Trụ sở: A L, phường T, Quận G, TP H
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị T
Bị đơn: Công ty TNHH MTV V2
Trụ sở: Lô D, KCN H (Giai đoạn 2), xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành L; sinh năm 1966; trú tại: D đường C tháng B, Phường A, quận A, TP H; địa chỉ liên hệ: Lầu B, số E N, Phường C, Quận C, TP H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH H (H.,L1)
Địa chỉ: 3-1-6 M, Y, K, Nhật Bản
1
(Nguyên đơn và bị đơn có mặt tại phiên toà; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện ngày 19/12/2017 và những lời khai tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 09/6/2016, Công ty TNHH một thành viên V2 (sau đây gọi là V-pan) và Công ty TNHH V2 (sau đây gọi là Konoike V1) đã ký Hợp đồng dịch vụ số KVLNFV09062016 về việc cung cấp dịch vụ giao nhận và vận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường biển cho hàng hoá xuất khẩu.
Thực hiện hợp đồng, Konoike V1 đã cung cấp dịch vụ giao nhận và vận chuyển hàng hoá cho V-pan đúng tiến độ và đã gửi hoá đơn chi phí dịch vụ cùng các chứng từ có liên quan theo quy định tại điểm 2.1 khoản 2 Điều 2 Hợp đồng dịch vụ. Tuy nhiên đã quá thời hạn theo quy định trong hợp đồng mà V-pan vẫn chưa thanh toán số tiền còn nợ 775.163.868 đồng, mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn thanh toán nợ nhưng không nhận được bất kỳ sự hợp tác nào từ phía bị đơn.
Theo thông báo đề nghị thanh toán tiền nợ quá hạn số 001//2017/TB-KVL ngày 04/11/2017, sau 15 ngày kể từ ngày bị đơn nhận được thông báo này, nếu bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ thì bị đơn phải trả lãi suất cơ bản theo mức lãi suất quy định của Ngân hàng TMCP N1 cho số ngày chậm thanh toán. Căn cứ theo phiếu báo phát thư số EX734366968VN của dịch vụ bưu chính V3 thì bị đơn đã nhận được thông báo đề nghị thanh toán tiền nợ quá hạn vào ngày 09/11/2017. Do bị đơn vi phạm hợp đồng nên nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn phải thanh toán số nợ gốc là 775.163.868 đồng và tiền lãi chậm thanh toán 617.509.759 đồng tạm tính từ ngày 09/11/2017 cho đến ngày xét xử sơ thẩm 13/8/2024 với mức lãi suất 10%/năm.
Bị đơn trình bày:
Liên quan đến yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH V2 (Konoike Vina), đòi Công ty TNHH một thành viên V2 (Công ty V4) thanh toán tiền cước phí vận tải là 775.163.868 đồng và lãi suất chậm thanh toán tính từ ngày 09/11/2017 đến nay, phía bị đơn chúng tôi (Công ty V4) không đồng ý. Lý do như sau:
Trong hồ sơ vụ án, ngoài Hợp đồng dịch vụ số KVLNFV09062016 về việc cung cấp dịch vụ và vận chuyển hàng hóa quốc tế ngày 09/06/2016 giữa nguyên đơn và bị đơn thì phía bị đơn chúng tôi có cung cấp cho Tòa án bản Hợp đồng ủy thác nghiệp vụ ký giữa Công ty V4 và Công ty H1., L1 (Công ty TNHH H) có giá trị 05 năm kể từ ngày 01/04/2016 đến 31/03/2021.
Tại Điều 1 của bản Hợp đồng ủy thác nghiệp vụ này có ghi rõ: Công ty TNHH H ủy thác nghiệp vụ cho Công ty V4 để:
- + Liên quan đến nhân sự: Tuyển dụng nhân viên...
2
- + Liên quan đến xuất nhập khẩu: Liên hệ đơn vị liên quan, lập chứng từ hải quan, quản lý chứng từ.
Và tại Điều 5 của bản hợp đồng cũng có ghi rõ Công ty TNHH H sẽ thanh toán các khoản phí, gồm:
- + Phí lao động: Tiền lương nhân viên...
- + Các phí khác: Giao thông, vận chuyển, gửi hàng...
Trên cơ sở đó, Công ty V4 có ký Hợp đồng lao động với hai nhân viên người Việt Nam là: Trần Thị Lan N và Đinh Lâm Quỳnh M. Đây là hai nhân viên do Công ty V4 tuyển dụng theo sự ủy thác nghiệp vụ của Công ty TNHH H. Hai nhân viên này đã trực tiếp làm việc với nguyên đơn trong suốt khoản thời gian từ tháng 9-10 năm 2016. Việc này thể hiện qua các thư điện tử (email) mà phía nguyên đơn đã nộp cho Tòa án. Qua các thư trao đổi email cho thấy nguyên đơn biết rõ đơn vị mà họ cung cấp dịch vụ chính là Công ty TNHH H và khi báo chi phí vận tải thì nguyên đơn cũng báo cho Công ty TNHH H chứ không phải báo cho bị đơn (Công ty V4). Hiện nay bà N và bà M đều nghỉ việc và bị đơn không cung cấp được địa chỉ của họ.
Nay Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp đến Nhật Bản để triệu tập Công ty TNHH H tham gia tố tụng nhưng không đạt kết quả vì Công ty TNHH H không còn ở địa chỉ cũ và chuyển đi đâu không rõ. Do đó, có căn cứ cho rằng Công ty TNHH H trốn tránh trách nhiệm, nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vụ việc vắng mặt Công ty TNHH H.
Căn cứ diễn biến sự việc diễn ra trên thực tế, Công ty V4 đề nghị Tòa án xem xét và xác định người có trách nhiệm trả số tiền cước phí vận chuyển 775.163.868 đồng cho nguyên đơn là Công ty TNHH H chứ không phải Công ty V4, đồng thời bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc Công ty V4 phải thanh toán số tiền cước phí 775.163.868 đồng nêu trên cho nguyên đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và nợ và tiền lãi do chậm thanh toán. Tuy nhiên, để thể hiện thiện chí giải quyết vụ việc, nay nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn phải thanh toán tổng số nợ gốc và lãi là 1.000.000.000 đồng, trong đó, nợ gốc là 775.163.868 đồng, tiền lãi do chậm thanh toán là 224.836.132 đồng.
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chỉ đồng ý trả 300.000.000 đồng. Đề nghị Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Nguyên đơn và bị đơn thực hiện đúng các quy định tại Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Qua lời trình bày của các đương sự tại phiên toà cùng các tài liệu chứng cứ Tòa án đã thu thập, Viện kiểm sát
3
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có trụ sở tại nước ngoài cần thực hiện ủy thác tư pháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 30, khoản 1 Điều 35 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015.
[1.2] Về xét xử vắng mặt Công ty TNHH H tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Xét thấy Công ty TNHH H (H., L1) có trụ sở tại 3-1-6 Maruyamidai Konan-ku, Y, K, Nhật Bản nên cần phải thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp. Ngày 29/8/2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ủy thác tư pháp đối với Thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên toà xét xử vụ án dân sự sơ thẩm đến Công ty TNHH H có địa chỉ nêu trên. Ngày 05/3/2019, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được thông báo số 511/BTP-PLQT ngày 25/02/2018 của Bộ Tư Pháp về việc cơ quan có thẩm quyền của Nhật Bản không thực hiện được ủy thác tư pháp với lý do “Không có người nhận tại địa chỉ được yêu cầu”. Sau khi có văn bản trả lời của cơ quan có thẩm quyền của Nhật Bản, nguyên đơn và bị đơn cũng không cung cấp được địa chỉ mới của Công ty TNHH H. Xét thấy, việc yêu cầu đưa Công ty TNHH H tham gia tố tụng xuất phát từ ý kiến của bị đơn nhằm mục đích chứng minh cho việc bị đơn không có trách nhiệm trả tiền cho nguyên đơn. Sau khi xem xét các chứng cứ và lời trình bày của các đương sự và căn cứ vào nội dung của Hợp đồng dịch vụ số KVLNFV09062016 ngày 09/6/2016, Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt Công ty TNHH H không ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn, đồng thời nguyên đơn và bị đơn cũng đề nghị xét xử vắng mặt đối với Công ty TNHH H nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với Công ty TNHH H.
[2] Về nội dung:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cùng những lời trình bày của nguyên đơn tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Ngày 09/6/2016, Công ty TNHH một thành viên V2 và Công ty TNHH V5 Hợp đồng dịch vụ số KVLNFV09062016 ............ 6 về dịch vụ giao nhận và vận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường biển cho hàng xuất nhập khẩu. Điều kiện thanh toán chuyển khoản sau 30 ngày kể từ ngày hoàn thành công việc. Tại phiên toà các bên thừa nhận sau khi ký hợp đồng không điền vào có khiếu nại về nội dung hợp đồng nên hợp đồng đã phát sinh hiệu lực. Trên thực tế sau khi ký hợp đồng các bên đã có thực
4
hiện dịch vụ giao nhận và phát sinh các khoản tiền nợ. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn đã nộp, thể hiện tổng số hoá đơn nguyên đơn đã phát hành cho bị đơn thanh toán là 45 hoá đơn với số tiền là 775.163.868 đồng.
Bị đơn không phủ nhận số tiền còn nợ nguyên đơn, tuy nhiên bị đơn không có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn, Công ty TNHH H bên phải có trách nhiệm thanh toán khoản nợ cho nguyên đơn, do đó khi bị đơn tìm được Công ty TNHH H để buộc thanh toán nợ cho bị đơn thì bị đơn sẽ trả cho nguyên đơn.
Ngoài ra, bị đơn còn trình bày bị đơn đã cung cấp cho Tòa án bản Hợp đồng ủy thác nghiệp vụ ký giữa Công ty V4 và Công ty TNHH H (H., L1) có giá trị 05 năm kể từ ngày 01/4/2016 đến ngày 31/3/2021. Xét tài liệu mà bị đơn đã giao nộp, Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn có giao nộp một tài liệu bằng tiếng Nhật và một bản dịch tiếng Việt Nam ghi là “Hợp đồng dịch vụ”. Tuy nhiên bản dịch tiếng Việt không được công chứng, chứng thực, hợp pháp hoá lãnh sự theo quy định tại Điều 94, 978 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, do đó tài liệu này không được đảm bảo về mặt chứng cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét đối với tài liệu này để công nhận là chứng cứ của vụ án. Ngoài tài liệu này, bị đơn không cung cấp được chứng cứ nào khác để chứng minh bị đơn không có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn. Vì vậy, lời trình bày của bị đơn chưa đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
Về yêu cầu tính lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán: Căn cứ theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại 2005, nguyên đơn là bên bị vi phạm hợp đồng nên được quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Qua tham khảo các văn bản thông báo lãi suất cho vay cùng thời điểm xét xử sơ thẩm, cụ thể văn bản số 3017/CNTPHCM-TH của Ngân hàng TMCP C ngày 14/6/2005, văn bản số 1261/NHNĐ.TTSG-PC của Ngân hàng N2 ngày 19/6/2024, văn bản số 7572/HCM-TH của Ngân hàng N1 ngày 10/7/2024 thì mức lãi suất trung bình của 03 ngân hàng là 15%/năm. Xét thấy mức lãi suất 10%/năm mà nguyên đơn yêu cầu không vượt quá mức lãi suất trung bình theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại 2005 nên Hội đồng xét xử chấp nhận mức lãi suất theo yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên toà, nguyên đơn rút một phần yêu cầu về tiền lãi chậm thanh toán, yêu cầu bị đơn phải thanh toán 224.836.132 đồng, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc rút một phần phần yêu cầu về tiền lãi chậm thanh toán cho bị đơn.
Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi chậm thanh toán là 1.000.000.000 đồng, trong đó, nợ gốc là 775.163.868 đồng, tiền lãi do chậm thanh toán là 224.836.132 đồng.
Do nhận định của đại diện Viện Kiểm sát về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
5
[3] Về chi phí ủy thác tư pháp cho Công ty TNHH H tại Nhật Bản: Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí ủy thác tư pháp. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.
[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 30, Khoản 3 Điều 35, 271, 273, 477, 478 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 85 Luật Thương mại 2005; Điều 306 Luật Thương mại 2005; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH V2.
Buộc Công ty TNHH một thành viên V2 trả cho Công ty TNHH V2 số tiền nợ gốc 775.163.868 (bảy trăm bảy mươi lăm triệu một trăm sáu mươi ba nghìn tám trăm sáu mươi tám) đồng và tiền lãi do chậm thanh toán 224.836.132 (hai trăm hai mươi bốn triệu tám trăm ba mươi sáu nghìn một trăm ba mươi hai) đồng; tổng cộng là 1.000.000.000 (một tỷ) đồng.
Trả một lần tại cơ quan Thi hành án có thẩm quyền sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng thời gian chậm trả quy định tại Điều 306 Luật Thương mại 2005.
[2] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: 42.000.000 (bốn mươi hai triệu) đồng. Công ty TNHH một thành viên V2 phải chịu.
Công ty TNHH V2 không phải chịu án phí, được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 17.503.278 (mười bảy triệu năm trăm lẻ ba nghìn hai trăm bảy mươi tám) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AD/2014/0008548 ngày 11/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè.
Các đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
6
các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Đoan Trang |
7
Bản án số 209/2024/KDTM-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 209/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
