Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 209/2024/HSST

Ngày : 01/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Đặng Tấn Đức;
  • 2/ Bà Trần Quang Cảnh;

Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Ngọc Thuý là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Hà là Kiểm sát viên;

Hôm nay, ngày 01 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 209/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: LÊ PHƯỚC D; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1986 tại tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp K, xã V, huyện V, tỉnh Long An; Chỗ ở: B B, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm công; Con ông Lê Văn K, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1957; Vợ: Đặng Thị Ngọc H, sinh năm: 1990; Con: Có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2024;

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Anh Trần Văn B, sinh năm 1987, ngụ tại: Thôn I, xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk;

(vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Phước D và anh Trần Văn B trước đây là đồng nghiệp quen biết nhau.

Vào khoảng 17 giờ 54 phút ngày 13/05/2024, Lê Phước D nhắn tin rủ anh B đến quán nhậu tại số B Hòa Bình, phường H, quận T, để nhậu. Duẩn có rủ thêm bạn là anh Đỗ Văn Tiến H1, đến nhậu cùng. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, D và anh H1 đến quán nhậu và ngồi nhậu ở phòng số 07 của quán. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, anh B điều khiển xe máy hiệu Air Blade biển số 47D1-202.98 đến quán gởi xe cho nhân viên giữ xe của quán nhưng không lấy thẻ xe và vào phòng số 7 ngồi nhậu cùng D và anh H1.

Lúc này, D nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy trên của anh B. Nên đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, D giả vờ nói với anh B là cho mượn chiếc xe máy biển số 47D1-202.98 của anh B để D đi đón bạn của D gần đó đến nhậu cùng, rồi trả lại xe cho anh B nhưng thực tế D không có đón bạn. Anh B tin tưởng D nói thật nên anh B đồng ý đưa chìa khóa xe máy trên cho D và nói D ra bãi giữ xe đọc biển số 47D1-202.98 là nhân viên giữ xe cho lấy xe, do khi anh B gởi xe không có thẻ nên không cần đưa thẻ. D đi ra khu vực gửi xe máy của quán, D nhìn thấy xe máy biển số 47D1-202.98 của anh B thì chỉ cho ông Lê Văn N1 là nhân viên giữ xe máy của quán để ông N1 dắt xe máy ra. D sử dụng chìa khóa xe máy của B đưa để bật công tắc nguồn, khởi động xe, rồi điều khiển chiếc xe máy trên đi về nhà trọ tại địa chỉ số B B, Phường F, quận T. Khi về đến nhà, D xóa kết bạn Z với anh B, anh H1 và tắt điện thoại để anh B, anh H1 không liên lạc được. Do thấy D mượn xe đi lâu, không thấy quay trở lại trả xe, anh B lấy điện thoại để liên lạc cho D thì thấy D xóa kết bạn Zalo và chặn cuộc gọi của anh B. Sau đó, anh B nhiều lần gọi điện thoại và nhắn tin cho D yêu cầu trả xe nhưng D không trả lời. Ngày 14/5/2024, anh B đến Công an phường H, quận T, trình báo sự việc (bút lúc số 47)

Sau khi chiếm đoạt được chiếc xe máy của B, đến ngày 16/05/2024, D gửi thông tin chiếc xe máy trên cho một người có tài khoản Zalo tên “Bé T” ở chung cư H Quận F (không rõ nhân thân lai lịch) để bán chiếc xe trên. Sau khi thỏa thuận thì D đã bán chiếc xe máy trên cho đối tượng này với giá 4.650.000 đồng vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 17/05/2024 tại vỉa hè gần cổng Công viên văn hóa Lê Thị R, địa chỉ H C (C đường T), Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Số tiền bán xe D đã tiêu xài cá nhân hết. (bút lục số 43);

Ngày 20/5/2024, Lê Phước D, thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận C và bị phát hiện. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can vào ngày 31/05/2024 và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Lê Phước D về Trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận C và thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Tại Cơ quan điều tra Công an quận T, Lê Phước D đã thừa nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản của anh B như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập. (bút lục số 142 - 159);

Tại bản kết luận định giá tài sản số 1253/KL-HĐĐGTS ngày 04/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T thời điểm ngày 13/5/2024 kết luận: xe gắn máy hiệu Air Blade, biển số 47D1-202.98, trị giá 15.000.000 đồng. (bút lục số 54)

* Vật chứng:

  • - Một (01) xe gắn máy hiệu Air Blade, biển số 47D1-202.98. Kết quả xác minh xe do anh Trần Văn B là chủ sở hữu. Xe Duẩn chiếm đoạt của anh Trần Văn B, hiện chưa thu hồi được;
  • - Một (01) đĩa DVD chứa dữ liệu ghi nhận sự việc xảy ra ngày 13/5/2024. Lưu kèm hồ sơ vụ án;
  • - Một (01) đĩa DVD ghi âm, ghi hình lời khai của Lê Phước D. Lưu kèm hồ sơ vụ án.

* Về phần dân sự:

Anh Trần Văn B đã nhận số tiền bồi thường 15.000.000 đồng (tương đương với giá trị định giá của chiếc xe). Anh B, không có yêu cầu gì khác. (bút lục số 32)

Tại bản cáo trạng số 232/CT-VKS ngày 30 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Phước D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo như cáo trạng và đề nghị:

  • - Áp dụng Khoản 1 Điều 174; Điều 38; Điều 50; điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo mức án từ 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm tù, đồng thời đề nghị giải quyết vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 13/5/2024, Lê Phước D đưa ra thông tin giả, tạo sự tin tưởng để thực hiện hành vi chiếm đoạt Một (01) xe gắn máy hiệu Air Blade biển số 47D1-202.98 của anh Trần Văn B qua định giá có giá trị 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng tại số B Hòa Bình, phường H, quận T thì bị bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội danh như trên là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Ngoài ra, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không biết lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác và đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố, chứng tỏ bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết có một hình phạt thật nghiêm khắc nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Đối với anh Đỗ Văn Tiến H1 và ông Lê Văn N1, không biết việc Lê Phước D thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh B, nên không xử lý (bút lục số 117 - 131)

Đối với đối tượng mua xe của D, hiện chưa rõ thông tin lai lịch, nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra truy xét, khi nào truy xét được đối tượng sẽ xử lý sau.

  • [3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại. Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Long An. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo;
  • [4] Về trách nhiệm dân sự:
  • Quá trình làm việc, bị hại đã nhận bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không có gì để giải quyết.
  • [5] Về xử lý vật chứng:
  • Đối với hai (02) đĩa DVD ghi lại diễn biến vụ việc hiện đang lưu trữ trong hồ sơ vụ án, xét thấy đây là vật chứng của vụ án nên tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án;
  • [6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Phước D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

* Áp dụng Khoản 1 Điều 174; Điều 38; Điều 50; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo:

Lê Phước D 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 29/7/2024.

* Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Lưu vào hồ sơ vụ án hai (02) đĩa DVD ghi lại diễn biến vụ việc;

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án tống đạt/ niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật;

Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Công an quận Tân Phú;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PC27 CATP.HCM;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Huỳnh Hoàng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2024/HSST ngày 01/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 209/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Phước D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger