Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 209/2024/HS-ST

Ngày: 24/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Chuyển;

Ông Đoàn Văn Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Dáng Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 169/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXXST- HS ngày 12/7/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Việt D, sinh năm 1987; Nơi thường trú: số A, ngõ A, Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông: Nguyễn Tất H; Con bà: Phùng Lệ T; Gia đình có bị cáo là con duy nhất; Vợ, con: Chưa có. Tiền án; Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 22/04/2004, Tòa án nhân dân TP Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng (Bản án sơ thẩm số 298). Ngày 05/08/2004, Tòa phúc thẩm tại Hà Nội Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 12 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng ( Bản án phúc thẩm số 1264). Đã xóa án tích
  • - Ngày 13/01/2010, TAND quận Ba Đình xử phạt 08 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (Bản án sơ thẩm số 01). Ra trại ngày 28/02/2010. Đã xóa án tích.

Bị cáo bị giữ khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 13/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố H.

2. Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1983; Nơi thường trú: Số C, ngõ A P, tổ E, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Đức C; Con bà: Nguyễn Thị C1; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ út; Vợ: Hoàng Thị Thu H1 (đã ly hôn); Con: 01 con, sinh năm 2010; Tiền án; tiền sự: Không.

Bị cáo bị giữ khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 13/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố H.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 00 phút ngày 13/01/2024, Công an phường Đ trên đường tuần tra kiểm soát địa bàn, khi đến khu vực ngã tư đường S- Đ, phường Đ, quận N phát hiện một nam thanh niên đang đứng trao đổi với tài xế xe ôm công nghệ hãng B2 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Thấy tổ công tác, nam thanh niên liền bỏ chạy thoát, đánh rơi 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen gắn sim số 0876584326. Kiểm tra tài xế xe ôm công nghệ khai tên là Nguyễn Trọng H2, sinh năm 2001, HKTT: Khu phố T, Thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình) là nhân viên của hãng xe ôm công nghệ B, H2 đang đi giao hàng là 01 cái áo khoác có mũ liền áo màu đen, để trong túi bóng màu vàng theo đơn đặt hàng trên App của hãng. Nhận đơn đặt hàng, H2 đến gặp 01 nam thanh niên tại địa chỉ số A Đ, phường Đ, quận B, Hà Nội để nhận hàng và điểm giao hàng là địa chỉ trước cửa nhà hàng D3 Xoăn địa chỉ tại BT12 khu biệt thự B đoạn ngã tư đường S giao với đường Đ, Đ, N, Hà Nội cho nam thanh niên vừa bỏ chạy trên. Khi H2 đang chờ nam thanh niên thanh toán tiền ship thì tổ công tác phát hiện và kiểm tra, nam thanh niên nhận hàng bỏ chạy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hàng H2 nhận ship phát hiện: 01 túi ni lông màu trắng kích thước (1.5x1.5)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý để ở mép viền bên trong trên mũ liền với áo khoác. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, tạm giữ và niêm phong tang vật, lập hồ sơ chuyển đến đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an quận N để điều tra theo thẩm quyền (BL: 57, 71, 83).

Tang vật thu giữ: (BL: 70; 189)

  • - 01 chiếc điện thoại Nokia 105 màu đen, lắp sim số 0876584326;
  • - 01 túi ni lông màu trắng kích thước (1.5x1.5)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý; (thu của anh Nguyễn Trọng H2)

Tiến hành điều tra, Cơ quan Công an đã tiến hành bắt khẩn cấp đối tượng Nguyễn Việt D và Nguyễn Thành Đ để làm rõ hành vi bán trái phép chất ma túy.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Việt D tại số A ngõ A Đ, phường Đ, B, TP Hà Nội, Cơ quan điều tra đã phát hiện và thu giữ (BL: 63-69)

  • - 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng;
  • - 01 cóong thủy tinh chứa tinh thể màu trắng;
  • - 01 vỏ túi nilon dính tinh thể màu trắng;
  • - 01 điện thoại di động hiệu LG Q92 màu xanh gắn sim số 0985232359
  • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO A3S màu đỏ gắn sim số 0962645412

Tại Bản kết luận giám định số 805/KT-KTHS ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận như sau: (tang vật thu giữ của Nguyễn Trọng H2) ( BL 81)

  • - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,120 gam;

Tại Bản kết luận giám định số 804/KT-KTHS ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận như sau: (tang vật thu giữ của Nguyễn Việt D) (BL 82)

  • - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,302 gam
  • - Tinh thể màu trắng bên trong 01 cóong thủy tinh là ma túy loại Methamphetamine khối lượng: 0,037 gam;
  • - 01 vỏ túi nilon có dính ma túy loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định:

Bị cáo Nguyễn Việt D và bị cáo Nguyễn Thành Đ là các đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy đá, không có nghề nghiệp ổn định, trước đây đã cùng nhau sử dụng ma túy tại nhà của D. Khoảng 16 giờ ngày 13/01/2024 có một nam thanh niên sử dụng số điện thoại 0876.584.xxx gọi cho D sử dụng số điện thoại 0962.645.xxx để hỏi mua 650.000 đồng tiền ma túy “đá” và hẹn mang ma túy đến trước khu vực nhà hàng D4, BT12 khu biệt thự B, ngã tư S- Đ, phường Đ, quận N. D đồng ý rồi nhắn số tài khoản 1025008623 mở tại Ngân hàng V của D để người này chuyển tiền. Sau khi nhận được tiền D liên lạc qua zalo với một phụ nữ tên L (D lưu tên “Chị L”) hỏi mua 01 gói ma túy “đá” với giá tiền là 400.000 đồng. L đồng ý rồi nhắn số tài khoản 0967261075 tại ngân hàng M1 mang tên Lai Thi Phuong L1 cho D để D thanh toán tiền mua ma túy. Khoảng 30 phút sau khi D chuyển tiển có một phụ nữ tên H3 (hiện chưa rõ nhân thân lai lịch) mang ma túy đến nhà và đưa cho D. D nhận ma túy rồi cất giấu vào áo khoác cũ màu đen có mũ để ngụy trang để không bị ai phát hiện. Do không biết cách sử dụng app đặt xe ôm công nghệ để giao hàng cho khách mua nên D gọi điện cho Nguyễn Thành Đ nhờ Đ đặt xe đi giao ma túy cho khách mua nhưng D không nói cho Đ biết việc bên trong gói hàng là ma túy. Đ đồng ý nên D đã gửi số điện thoại, địa chỉ nhận hàng của khách cho Đ. Đ vào ứng dụng Be đặt xe ôm công nghệ để ship hàng cho D (Đ nhập tên người gửi, số điện thoại, địa chỉ giao gói hàng là của D). D cho gói ma túy “đá” vào phía trong viền cổ áo khoác rồi khâu lại, cho vào túi nilon rồi mang ra khu vực đầu ngõ A Đội cấn giao cho tài xế là anh Nguyễn Trọng H2 (SN: 09/6/2001, HKTT: Khu phố T, Thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình). Khi anh H2 mang túi hàng đến giao cho khách mua ma túy của D tại khu vực đường S- Đ thì bị Tổ công tác Công an phường Đ kiểm tra hành chính và thu giữ vật chứng như đã nêu trên. (BL:119-148; 157-173; 178-193)

Đến khoảng 19 giờ ngày 13/01/2024, có một nam thanh niên sử dụng số điện thoại 0357.003.xxx, D lưu trong danh bạ tên là “Em Trung Saly") liên lạc với D hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy “đá” và hẹn giao ma túy đến KĐT V, phường T, quận N. D đồng ý rồi gọi qua zalo cho một nam thanh niên tên T1 (D lưu tên danh bạ “e T1 ba bửa”) hỏi mua 800.000 đồng ma túy đá và hẹn mang đến nhà cho D. T1 đồng ý rồi nhắn số tài khoản 209873141 mở ngân hàng V1 mang tên Tong Minh T2 để D chuyển tiền. Khoảng 30 phút sau T1 mang đến trước nhà và đưa cho D 01 gói nilon chứa ma túy “đá”. D lấy một phần ma túy “đá” cho vào cóong thủy tinh rồi gọi Đ sang nhà để cùng nhau sử dụng và không phải góp tiền mua ma túy. Khoảng 20h00 ngày 13/01/2024, Đ sang nhà và lên phòng ngủ của D, tại đây Đ nhìn thấy trên giường có 01 chiếc cóong thủy tinh bên trong đã có sẵn ma túy. Đ lấy chiếc cóng và hút một hơi rồi ngồi chơi cùng D. Sau khi cả hai cùng sử dụng số ma túy vẫn còn lại một ít trong cóng, Đ nhìn thấy D cho túi ma túy giấu vào cổ áo rồi khâu lại và tiếp tục nhờ Đ đặt xe ôm để đi giao cho đối tượng “Trung Saly”. Đ biết D bán ma túy nhưng vẫn đồng ý giúp rồi vào ứng dụng Be đặt tài xế xe ôm là anh Trần Huy M (SN: 19/8/1997; HKTT: Thôn B, xã T, huyện T, TP Hà Nội) đến lấy hàng và được D chuyển khoản 50.000 đồng để trả công. Khoảng 20 giờ cùng ngày, D cầm chiếc áo chứa ma túy ra đầu ngõ A Đ giao cho anh M thì bị Tổ công tác Công an phường Đ kiểm tra và phát hiện.

Kết quả xét nghiệm ma túy D và Đ đều Dương T3 với chất ma túy.

Đối với anh Nguyễn Trọng H2 khi nhận giao hàng không biết bên trong túi hàng là ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với nguồn gốc số ma túy thu giữ từ anh Nguyễn Trọng H2. Tại Cơ quan điều tra, D khai mua của đối tượng L1 sử dụng số tài khoản 0967261075 tại ngân hàng M1. Xác minh chủ tài khoản trên là của Lại Thị Phương L2 ( Sinh ngày 26/10/1975; HKTT: số A Đ, phường Ô, quận Đ, Hà Nội). Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập đối tượng Lại Thị Phương L2 nhưng L2 hiện không có mặt tại nơi cư trú, hiện L2 đi đâu, làm gì gia đình và chính quyền địa phương đều không rõ. Ngày 10/06/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến đối tượng Lại Thị Phương L2 đồng thời ra Quyết định truy tìm người, khi có căn cứ mới sẽ tiếp tục xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với nguồn gốc số ma túy thu giữ khi D mang đi giao cho anh Trần Huy M và số ma túy còn lại thu giữ tại nhà của D mà D và Đ cùng sử dụng: D khai mua của đối tượng T1 qua số tài khoản 209873141 mở ngân hàng V1. Tiến hành xác minh chủ tài khoản là Tống Minh T4 (Sinh ngày: 11/06/1988, HKTT: số 2, ngách A phố N, phường N, B, Hà Nội) Tại Cơ quan điều tra, T4 khai có quan hệ bạn bè quen biết xã hội với D, ngày 13/01/2024, D chuyển khoản số tiền 400.000 đồng cho T4 để trả nợ cá nhân và không thừa nhận việc bán ma túy cho D như D khai. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho D và T4 đối chất kết quả cả hai giữ nguyên lời khai. Xét thấy việc D khai mua ma túy của T4 không có ai biết và chứng kiến, tài liệu thu thập trong hồ sơ chưa đủ căn cứ kết luận T4 là người bán ma túy cho D vào ngày 13/01/2024 do vậy đối với hành vi của đối tượng Tống Minh T4 Cơ quan điều tra chưa đủ có căn cứ xem xét và xử lý.

Đối với khách mua ma túy sử dụng điện thoại 0876.584.xxx, xác minh chủ thuê bao đứng tên chị Nguyễn Thị B1 (SN: 1959; HKTT: P, N, Hà Nội), tuy nhiên xác minh chị B1 không đăng ký và sử dụng số điện thoại trên, không biết đối tượng Nguyễn Việt D là ai nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ và xử lý.

Đối với khách mua ma túy sử dụng điện thoại 0357.003.xxx, xác minh chủ thuê bao đứng tên chị Nguyễn Thị Thúy D1 (SN: 2001; HKTT: ấp A, P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu), chị D1 cũng không đăng ký và sử dụng số điện thoại trên, không biết đối tượng Nguyễn Việt D là ai nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ và xử lý.

Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Việt D và Nguyễn Thành Đ khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản kiểm tra hành chính, biên bản tạm giữ đồ vật, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản cáo trạng số 167/CT-VKS ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố các bị cáo Nguyễn Việt D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1, Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 251; khoản 1, Điều 255; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 55; Điều 38; Bộ luật hình sự năm 2015
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt D từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 28 tháng đến 32 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt cả 02 tội bị cáo phải chấp hành từ 09 năm 07 tháng tù đến 10 năm 05 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2024;
  • + Áp dụng: khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2024;
  • *Về vật chứng: căn cứ Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01( một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Trọng H2 và giám định viên.
  • + 02 (hai) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Việt D và giám định viên

Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

  • + 01 ( một) điện thoại di động Nokia 105 màu đen gắn sim.
  • + 01 điện thoại di động hiệu LG Q92 màu xanh gắn sim
  • + 01 điện thoại di động hiệu OPPO A3S màu đỏ gắn sim.

Buộc D phải nộp 400.000 đồng tiền bán ma túy để sung công quỹ nhà nước.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo nộp 200.000 đồng án phí HSST.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, phù hợp với bản kết luận giám định số 805KT-KTHS ngày 22/01/2024 và tại kết luận giám định số 804/KT -KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H và các biên bản, tài liệu khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ.

[3] Những chứng cứ trên đây đủ cơ sở xác định: Hồi 18 giờ 00 phút ngày 13/01/2024, tại khu vực ngã tư đường S-Đ, phường Đ, quận N, Nguyễn Việt D đưa ma túy cho anh Nguyễn Trọng H2 0,120 gam ma túy loại Methamphetamine để giao cho khách thì bị tổ công tác Công an Đại Mỗ kiểm tra hành chính thu giữ tang vật.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Việt D mua ma túy về nhà và rủ Nguyễn Thành Đ đến nhà cùng sử dụng, sau đó cả hai thực hiện hành vi bán trái phép 0,302 gam ma túy loại Methamphetamine cho người khác, khi D đang đưa ma túy cho anh Trần Huy M để mang đi giao thì bị tổ công tác Công an Đại Mỗ kiểm tra hành chính thu giữ tang vật.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của D Tổ công tác còn thu giữ 0,037 gam ma túy Methamphetamine tại cóong thủy tinh và 01 vỏ túi nilon có dính ma túy loại Methamphetamine.

Do vậy, tổng khối lượng ma túy Nguyễn Việt D phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,120 + 0,302 + 0,037 = 0,459 gam ma túy loại Methamphetamine.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Trung L3, Lê Mạnh D2, Bùi Trọng Q đã phạm vào tội “Tổ chức trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự 2015.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an cho xã hội. Các bị cáo đều biết rõ ma túy là chất gây nghiện làm tổn hại cho sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây nên căn bệnh HIV, AIDS và là mầm mống của các loại tội phạm khác.

Về nhân thân của các bị cáo HĐXX thấy rằng:

Bị cáo Nguyễn Việt D có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 15/10/2003, Công an quận C, TP Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi: Cố ý gây thương tích. Mức phạt 100.000 đồng. Đã chấp hành xong. Ngày 29/01/2004; Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm xử 9 tháng tù cho hưởng án treo về tội: Đánh bạc. Đã chấp hành xong. Ngày 23/06/2009, Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm xử 4 năm 6 tháng tù về tội: Cướp tài sản. Ngoài hành vi bán trái phép chất ma túy bị cáo D còn thực hiện hành vi rủ Đ và cung cấp ma túy đưa ma túy cho bị cáo Đ sử dụng, Đ không phải đóng góp gì. Do vậy bị cáo D phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, các bị cáo có đủ năng lực nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc, phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tính giáo dục để cải tạo các bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Xét vai trò của của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Nguyễn Việt D vai trò chính nên phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo Nguyễn Thành Đ. Bị cáo Đ chịu hình phạt phù hợp với hành vi mà bị cáo gây ra.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

  • + Bị cáo Nguyễn Việt D phải chịu tình tiết tăng nặng: phạm tội từ hai lần trở lên được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • + Bị cáo Nguyễn Thành Đ: Không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cả hai gia đình các bị cáo đều có công với cách mạng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự (đối với bị cáo Đ) nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với nguồn gốc số ma túy thu giữ từ anh Nguyễn Trọng H2. Tại Cơ quan điều tra, D khai mua của đối tượng L2 sử dụng số tài khoản 0967261075 tại ngân hàng M1. Xác minh chủ tài khoản trên là của Lại Thị Phương L2 ( Sinh ngày 26/10/1975; HKTT: số A Đ, phường Ô, quận Đ, Hà Nội). Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập đối tượng Lại Thị Phương L2 nhưng L2 hiện không có mặt tại nơi cư trú, hiện L2 đi đâu, làm gì gia đình và chính quyền địa phương đều không rõ. Ngày 10/06/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến đối tượng Lại Thị Phương L2 đồng thời ra Quyết định truy tìm người, khi có căn cứ mới sẽ tiếp tục xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với nguồn gốc số ma túy thu giữ khi D mang đi giao cho anh Trần Huy M và số ma túy còn lại thu giữ tại nhà của D mà D và Đ cùng sử dụng: D khai mua của đối tượng T4 qua số tài khoản 209873141 mở ngân hàng V1. Tiến hành xác minh chủ tài khoản là Tống Minh T4 (Sinh ngày: 11/06/1988, HKTT: số 2, ngách A phố N, phường N, B, Hà Nội) Tại Cơ quan điều tra, T4 khai có quan hệ bạn bè quen biết xã hội với D, ngày 13/01/2024, D chuyển khoản số tiền 400.000 đồng cho T4 để trả nợ cá nhân và không thừa nhận việc bán ma túy cho D như D khai. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho D và T4 đối chất kết quả cả hai giữ nguyên lời khai. Xét thấy việc D khai mua ma túy của T4 không có ai biết và chứng kiến, tài liệu thu thập trong hồ sơ chưa đủ căn cứ kết luận T4 là người bán ma túy cho D vào ngày 13/01/2024 do vậy đối với hành vi của đối tượng Tống Minh T4 Cơ quan điều tra chưa đủ có căn cứ xem xét và xử lý.

Đối với khách mua ma túy sử dụng điện thoại 0876.584.xxx, xác minh chủ thuê bao đứng tên chị Nguyễn Thị B1 (SN: 1959; HKTT: P, N, Hà Nội), tuy nhiên xác minh chị B1 không đăng ký và sử dụng số điện thoại trên, không biết đối tượng Nguyễn Việt D là ai nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ và xử lý.

Đối với khách mua ma túy sử dụng điện thoại 0357.003.xxx, xác minh chủ thuê bao đứng tên chị Nguyễn Thị Thúy D1, sinh năm: 2001; HKTT: ấp A, P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu), chị D1 cũng không đăng ký và sử dụng số điện thoại trên, không biết đối tượng Nguyễn Việt D là ai nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ và xử lý.

Tại Cơ quan điều tra các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản kiểm tra hành chính, biên bản tạm giữ đồ vật, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, lời khai của những người liên quan, tài liệu khác trong hồ sơ vụ án.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01( một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Trọng H2 và giám định viên.
  • + 02 (hai) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Việt D và giám định viên

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

  • + 01 ( một) điện thoại di động Nokia 105 màu đen gắn sim.
  • + 01 điện thoại di động hiệu LG Q92 màu xanh gắn sim
  • + 01 điện thoại di động hiệu OPPO A3S màu đỏ gắn sim.

Buộc D phải nộp 400.000 đồng tiền bán ma túy để sung công quỹ nhà nước.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

  • + Bị cáo Nguyễn Việt D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • + Bị cáo Nguyễn Thành Đ tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 251; khoản 1, Điều 255; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Việt D 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 09 (Chín) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2024;

2. Áp dụng: khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành Đ 25 (Hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2024;

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01( một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Trọng H2 và giám định viên.
  • + 02 (hai) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Việt D và giám định viên

Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

  • + 01 ( một) điện thoại di động Nokia 105 màu đen gắn sim.
  • ( Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
  • + 01 điện thoại di động hiệu LG Q92 màu xanh gắn sim
  • ( Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
  • + 01 điện thoại di động hiệu OPPO A3S màu đỏ gắn sim.
  • ( Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 249 ngày 16/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Truy thu của bị cáo D số tiền 400.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

4. Về án phí: Áp dụng Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 324/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - TAND TPHN;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phan Thị Kim Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 209/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cáo Nguyễn Việt D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Thành Đ tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger