Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 209/2024/HS-ST

Ngày 23 – 8 – 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Lâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Trí Dũng
2. Ông Lê Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường An - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 223/2024/TLST-HS, ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Kiều N (Tên gọi khác: K); Giới tính: Nam; Sinh năm 1995 tại tỉnh Ninh Thuận; Nơi thường trú: 205/20/53/2 đường P, Khu phố 4, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: F3/23 Ấp 6C, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Shipper; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông (không rõ) và bà Kiều Trâm Th; Bị cáo có vợ và có 01 người con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 25/02/2014, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 30/2014/HSST. Bị cáo kháng cáo. Ngày 28/4/2024, Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, tuyên y án sơ thẩm theo Bản án số 283/2014/HSPT. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/12/2017, hiện chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm và hình sự phúc thẩm. Do khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo dưới 18 tuổi nên đến nay đã được xóa án tích theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/11/2022. (có mặt)

2. Họ và tên: Nguyễn Hoàng P; Giới tính: Nam; Sinh năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú và cư trú: A8/19T, Ấp 7 xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M và ông Huỳnh Thị S; Bị cáo có vợ và có 02 người con sinh năm 2019 và 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2024. (có mặt)

* Bị hại: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Nơi cư trú: F13/16 Ấp 6A, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Đỗ Huy Hoàng N1, sinh năm 1970; Nơi cư trú: 242/47/39-41 đường N, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 19/11/2022, Nguyễn Thanh T đi đến quán S, địa chỉ F12/29P, Tổ 15, Ấp 5A, xã A, huyện B uống bia cùng một số người bạn trong phòng VIP Chi Lê. Cùng thời điểm đó, Kiều N và Nguyễn Hoàng P cùng với một số người bạn dự tiệc sinh nhật của ông Đỗ Huy Hoàng N1 ở ngoài sảnh của quán.

Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, nhóm của T nghỉ uống bia, do không còn đủ tiền trả cho quán với số tiền là 1.500.000 đồng nên T kêu nhân viên quán nói với ông N1 cho T thế chấp lại chiếc xe mô tô để trả phần tiền còn thiếu. Khoảng 10 phút sau, ông N1 có nhờ P cầm số tiền 1.500.000 đồng vào đưa cho T và nói với T là của ông N1 đưa. T lấy số tiền 1.500.000 đồng trả tiền cho nhân viên quán rồi đi ra ngoài sảnh của quán thì gặp H (không rõ lai lịch) đang ngồi uống bia cùng với P, N, ông N1 và một số người khác. H rủ T cùng vào ngồi uống bia chung. Trong lúc uống bia, P nhắc đến việc T nợ ông N1 số tiền 1.500.000 đồng, T nói “Giờ sao, muốn gì?”. Do bực tức, P dùng tay đấm, chân đá vào người nhưng không gây ra thương tích gì, cùng lúc này Kiều N cầm ly thủy tinh uống bia đập vào đầu T gây thương tích chảy máu thì được mọi người can ra.

Khoảng 02 phút sau, do tức giận việc bị P và N đánh nên T lấy con dao tự chế dài khoảng 10 cm, mũi nhọn được gắn trong chùm chìa khóa xe treo ở thắt lưng ra cầm trên tay phải rồi xông đến gần chỗ P đang đứng để đâm P thì bị P dùng chân đá làm T ngã xuống nền gạch. T liền đứng dậy cầm dao đâm vào vùng trán trái, hông trái, dưới cánh tay trái, đùi trái, bả vai trái của P và đâm vào tay của N gây thương tích. Sau đó, được mọi người can ngăn nên P bỏ đi đến phòng khám trên đường Võ Văn Vân điều trị vết thương, N bỏ về nhà, còn T ngồi lại tại quán và được ông N1 băng bó vết thương.

Sau khi về nhà, do còn tức giận nên N lấy một khẩu súng pháo (trong ổ đạn có 01 viên đạn) quay trở lại quán thì gặp T trong quán, N bắn 01 phát chỉ thiên, đồng thời tiến lại gần T. T lấy ly bia bằng thủy tinh cầm trên tay phải đập vào đầu N 01 cái làm vỡ ly bia, tay trái T chụp lấy khẩu súng của N đang cầm và giằng co làm gãy khẩu súng. Lúc này, mọi người vào can ngăn thì T chụp lấy cái chén bằng sành đập vào đầu N gây thương tích cho N ở đầu và tai trái rồi T bỏ đi. N cầm theo thân súng đi về, trên đường về, N vứt thân súng ở đường Q rồi đi đến phòng khám B điều trị thương tích chung với P. Còn T đi đến phòng khám đa khoa G trên đường V điều trị thương tích. Sau đó, em ruột của T là ông Nguyễn Phương T1 đã trình báo Công an xã A lập hồ sơ ban đầu, chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh để điều tra, xử lý.

Qua truy xét, Cơ quan công an đã mời Kiều N, Nguyễn Thanh T và Nguyễn Hoàng P lên làm việc thì cả ba khai nhận toàn bộ sự việc như trên.

I) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 474/TgT.23 ngày 07/7/2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đối với Nguyễn Thanh T xác định:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định :
*Theo Toa thuốc của Phòng khám đa khoa Gia Định khám ngày 19/11/2022 và Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập ngày 20/11/2022:
Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn các sẹo tại:
+ Vùng trán trái ngoài tóc kích thước 1,1x(0,1-0,2)cm.
+ Vùng trán phải trong tóc kích thước 1 x 0,3cm, còn chỉ khâu.
+ Vùng trán phải ngoài tóc kích thước 2 x 0,2cm;
+ Vùng trán đỉnh phải kích thước 3,5 x (0,1-0,3)cm;
+ Vùng đỉnh giữa kích thước 1,6 x 0,1cm;
Các thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn, vật có cạnh sắc,vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động gây ra.
+ Vùng đỉnh sau kích thước 4 x 0,4 cm;
Thương tích do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động gây ra.
+ Bờ ngoài ngón I bàn tay phải kích thước 1,4x0,2cm;
+ Lòng bàn tay phải kích thước 3x0,15cm;
+ Bờ ngoài ngón II bàn tay phải kích thước 1,5x0,1cm;
+ Mặt lòng ngón V bàn tay phải kích thước 0,5x0,1cm;
+ Mặt ngoài 1/3 giữa đùi phải kích thước 2,5x0,2cm.
Năm thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn, vật có cạnh sắc tác động gây ra.

2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 15% .

3. Kết luận khác:
- Tất cả thương tích trên không gây nguy hiểm đến tính mạng.
- Ly thủy tinh, con dao không thu giữ được, không đủ cơ sở trả lời câu hỏi của Cơ quan điều tra.”

Công văn số 474-GT/TgT.23 ngày 21/9/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh giải thích kết quả giám định của Nguyễn Thanh T xác định:

“Theo bản Kết luận giám định pháp y số 474-GT/TgT.23 của đương sự Nguyễn Thanh T, sinh năm 1995:
- Hai vết thương vùng trán trái ngoài tóc và trán phải ngoài tóc: Có tỷ lệ 03% mỗi vết.
- Vết thương vùng đỉnh sau: Có tỷ lệ 02% .
- Tám vết thương còn lại: Có tỷ lệ 01% mỗi vết.
Cộng các tỷ lệ trên theo thông tư 22/2019/TT-BYT là: 15%".

II) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 485/TgT.23 ngày 12/7/2023 của Trung pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đối với Nguyễn Hoàng P xác định:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định :
*Theo Toa thuốc của Phòng khám y dược Bảo Đức khám ngày 19/11/2022 và Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập ngày 20/11/2022:
Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn:
+ Một sẹo vùng trán trái ngoài tóc kích thước 0,8x0,5cm.
Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn, vật có cạnh sắc, vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động gây ra.
+ Một sẹo vùng thượng vị lệch trái kích thước 1,5x0,15cm.
+ Một sẹo vùng hông trái kích thước 1,6x0,15cm.
+ Một sẹo vùng bả vai trái kích thước 2,2x0,4cm.
+ Hai sẹo mặt ngoài cánh tay trái kích thước 1,5x0,2cm và 1,1x0,5cm.
+ Một sẹo mặt sau 1/3 dưới cánh tay trái kích thước 1,3x0,2cm.
+ Một sẹo mặt trước 1/3 trên đùi trái kích thước 9,7x (0,3-0,5)cm.
+ Một sẹo mặt ngoài gối trái kích thước 7,2x(0,2-0.5)cm.

2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 12%.

3. Kết luận khác:
- Các thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra, không gây nguy hiểm đến tính mạng.”.

III) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 866/TgT.23 ngày 08/12/2023 của Trung pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đối với Kiều N xác định:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn :
+ Các vết có chỉ khâu tại:
• Vùng đỉnh trái kích thước 3x0,1cm.
Có tỷ lệ 01% .
Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.
• Vùng sau tai trái có hai vết kích thước 1,5x0,05cm và 2,7x0,1cm.
Có tỷ lệ 01% mỗi vết.
Hai thương tích trên do vật sắc, sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.
• Vành tai trái có hai vết kích thước 1,2x0,05cm và 2x0,1cm.
Có tỷ lệ 01 % mỗi vết.
Hai thương tích trên do vật sắc, sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.
• Vùng má trái kích thước 2x0,1cm.
Có tỉ lệ 03%.
Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn, vật có cạnh sắc tác động gây ra.
+ Hai vết xước da đang đóng mày mặt sau cẳng tay phải kích thước 2,2x0,1cm và 5x0,1cm.
Có tỷ lệ lần lượt là 0,5% và 01%.
Hai thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 09%.

3. Kết luận khác:
- Tất cả các thương tích trên không gây nguy hiểm đến tính mạng.”.

IV) Bản kết luận giám định số 3894/KL- KTHS Ngày 20/4/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định:

“- Ổ quay gửi giám định là buồng chứa đạn của loại súng ngắn ổ quay.
- Vỏ đạn gửi giám định là vỏ đạn đã qua sử dụng của loại đạn thể thao cỡ 5,6mm x 15,6mm.
- Đối tượng gửi giám không phải là vũ khí quân dụng, không thuộc nhóm vũ khí nên trong luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Kiều N, Nguyễn Thanh T và Nguyễn Hoàng P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra, T còn khai nhận trong lúc cầm dao đâm P và N, con dao này còn gây thương tích cho T ở bàn tay phải (có tỷ lệ 04%).

Đối với Nguyễn Thanh T, qua xác minh, hiện tại không có mặt tại nơi cư trú, bỏ đi đâu không rõ nên ngày 13/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã ra Quyết định truy nã, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án và Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Cáo trạng số 220/CT-VKS ngày 05/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố. Các bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải. Các bị cáo không tranh luận và lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Kiều N từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Về dân sự:

+ Nguyễn Hoàng P làm đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự và không yêu cầu Nguyễn Thanh T bồi thường tiền điều trị thương tích.
+ Nguyễn Thanh T làm đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự và không yêu cầu Kiều N, Nguyễn Hoàng P bồi thường tiền điều trị thương tích.
+ Kiều N đã bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự và không yêu cầu Nguyễn Thanh T bồi thường tiền điều trị thương tích.
+ Đối với các tài sản là chén, ly, do P, N và T gây hư hỏng, có giá trị thiệt hại nhỏ và ông Đỗ Huy Hoàng N1 - chủ tài sản không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xử lý.

Về vật chứng: Đề nghị lưu cùng 01 USB ghi hình ảnh sự việc; tịch thu, tiêu hủy đối với 01 áo thun nam màu đỏ, trước ngực màu trắng và có chữ KAPPA (thu giữ của T; 01 quần Jean ngắn màu đen (thu giữ của T), 01 ổ đạn bằng kim loại, 01 vỏ đạn (thu giữ của Kiều N), 01 cái quần Jean màu trắng bạc (thu giữ của Kiều N), 01 cái quần Jean màu xanh (thu giữ của P).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của các bị cáo như sau:

Vào ngày 19/11/2022, tại địa chỉ F12/29P, Tổ 15, Ấp 5A, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, các bị cáo Kiều N và Nguyễn Hoàng P đã sử dụng ly thủy tinh (hung khí nguy hiểm) và sử dụng tay, chân đánh gây thương tích cho Nguyễn Thanh T với tỷ lệ tổn thương cơ thể 11%. Kết luận giám định thương tích cho thấy các thương tích gây ra cho Nguyễn Thanh T không nguy hiểm đến tính mạng.

Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét về vai trò đồng phạm, các bị cáo Kiều N và Nguyễn Hoàng P cùng tham gia gây thương tích cho bị hại nhưng đây là đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết, phối hợp chặt chẽ giữa các bị cáo trong việc phạm tội. Trong đó, P là người khởi xướng việc đánh nhau, dùng tay đấm, chân đá vào người T trước, ngay lúc đó Kiều N là người cầm ly thủy tinh uống bia đập vào đầu T gây thương tích cho T. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét vai trò đồng phạm của từng bị cáo khi quyết định hình phạt.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại Nguyễn Thanh T có đơn đề nghị bãi nại cho các bị cáo và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Riêng bị cáo Kiều N có nhân thân bị xử lý hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[4] Đối với bị hại Nguyễn Thanh T, quá trình điều tra đã bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh ra Quyết định truy nã, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Đối với việc N, P và T, khi đánh nhau có làm vỡ ly thủy tinh và chén của ông N1, do tài sản bị hư hỏng có giá trị nhỏ, ông N1 không yêu cầu định giá, không yêu cầu bồi thường, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh không xử lý N, P và T về hành vi hủy hoại tài sản.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

+ Nguyễn Thanh T làm đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự và không yêu cầu Kiều N, Nguyễn Hoàng P bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
+ Nguyễn Hoàng P, Kiều N làm đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự và không yêu cầu Nguyễn Thanh T bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
+ Đối với các tài sản là chén, ly, do P, N và T gây hư hỏng, có giá trị thiệt hại nhỏ và ông Đỗ Huy Hoàng N1 - chủ tài sản không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét.

[6] Xử lý vật chứng:

- Đối với 01 áo thun nam màu đỏ, trước ngực màu trắng và có chữ KAPPA (thu giữ của T, 01 quần Jean ngắn màu đen (thu giữ của T), 01 ổ đạn bằng kim loại, 01 vỏ đạn (thu giữ của Kiều N), 01 cái quần Jean màu trắng bạc (thu giữ của Kiều N), 01 cái quần Jean màu xanh (thu giữ của Ph): Xét thấy các vật này liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo để lâu không còn giá trị sử dụng và các bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 USB ghi hình ảnh sự việc: Xét thấy cần lưu cùng hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Kiều N: 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2022.

2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P: 03 (năm) 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2024.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun nam màu đỏ, trước ngực màu trắng và có chữ KAPPA (thu giữ của T), 01 quần Jean ngắn màu đen (thu giữ của T), 01 ổ đạn bằng kim loại, 01 vỏ đạn (thu giữ của Kiều N), 01 cái quần Jean màu trắng bạc (thu giữ của Kiều N), 01 cái quần Jean màu xanh (thu giữ của P).

(Các vật chứng trên đang giữ tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/12/2023 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh).

2.2. Lưu theo hồ sơ vụ án đối với 01 USB ghi hình ảnh sự việc (vật chứng này đang lưu cùng hồ sơ vụ án).

3. Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Mỗi bị cáo chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND huyện Bình Chánh;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam Chí Hòa; Trại giam T30;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Chánh;
  • - Lưu: Vp, Hồ sơ vụ án (TP. Lâm).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thanh Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 209/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger