|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 209/2024/HS-ST Ngày 24-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Khắc Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Thanh Hiên
Bà Nguyễn Thị Bích Lý
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Cẩm Hương, thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư, kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 202/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 828/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Ngô Thanh T, sinh ngày 22 tháng 06 năm 1987 tại Hải Phòng; nơi cư trú: T, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Thanh B và bà Hoàng Thị L, có vợ là Nguyễn Thị Lan C và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 19/2008/HSST ngày 17/9/2008 Tòa án quận Dương Kinh thành phố Hải Phòng xử phạt 5.000.000 đồng về tội Đánh bạc, Bản án số 56/2018/HS-ST ngày 22/8/2018 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng xử phạt 04 năm tù về tội Cướp tài sản (đều đã xóa án tích); Tháng 12/2016 Công an thị trấn N ra Quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Năm 2017 Công an phường C, quận H, thành phố Hải Phòng đưa vào Trường L1 theo diện trợ giúp xã hội đối với người lang thang từ ngày 01/5/2017 đến 01/8/2017; tạm giữ ngày 09/5/2024; tạm giam ngày 17/5/2024; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Ngô Thanh B, sinh năm: 1963; địa chỉ: T, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt;
2. Anh Nguyễn Hải N, sinh năm: 2000; địa chỉ: Đ, phường L, quận B, thành phố Hà Nội; vắng mặt;
3. Anh Tạ Thanh T1, sinh năm: 1986; địa chỉ: Số A Đ, phường L, quận B, thành phố Hà Nội; vắng mặt;
4. Anh Phạm Văn H, sinh năm: 1984; địa chỉ: Số A khu đô thị L, huyện H, thành phố Hà Nội ; vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối tháng 01/2024, Ngô Thanh T được bố đẻ là ông Ngô Thanh B, sinh năm 1963, địa chỉ: T, N, K, Hải Phòng giao cho xe ôtô MG5 biển kiểm soát 15K-162.20 sử dụng để đi lại nhưng không đưa đăng ký xe (đăng ký xe mang tên ông Ngô Thanh B). Quá trình sử dụng, T nảy sinh ý định làm giả đăng ký xe để sử dụng khi tham gia giao thông. Khoảng đầu tháng 02/2024, T vào mạng xã hội facebook rồi liên hệ với người không quen biết đặt làm giả đăng ký xe ôtô biển kiểm soát 15K-162.20 với giá 500.000 đồng. T đã cung cấp tên chủ xe là Ngô Thanh T, địa chỉ: T, N, K, Hải Phòng; nhãn hiệu: MG; số máy: 15S4C5QTP1050039; số khung: MMLA36U67PG011193 cho người này. Ba ngày sau, T nhận đăng ký xe giả từ nhân viên giao hàng. Từ khi có đăng ký xe giả, T chưa sử dụng lần nào.
Đến tháng 5/2024, do cần tiền để làm ăn nên T đã hỏi vay ông B 200.000.000 đồng nhưng ông B không có mà hẹn T một thời gian để thu xếp. Vì vậy, T nảy sinh ý định cầm cố xe ôtô biển kiểm soát 15K-162.20. Ngày 06/5/2024, T liên hệ với cửa hàng C1, địa chỉ: số A Hồ T, quận N, Hà Nội để cầm cố tài sản. Anh Nguyễn Hải N, sinh năm 2000, nơi thường trú: Đ, phường L, quận B, Hà Nội là nhân viên cửa hàng hẹn T mang xe ôtô và đăng ký đến quán café, địa chỉ: số B H, phường N, quận L, Hải Phòng để làm thủ tục vay số tiền 200.000.000 đồng. Khoảng 16 giờ ngày 08/5/2024, T mang 01 xe ôtô MG5 biển kiểm soát 15K-162.20 và 01 đăng ký xe ôtô mang tên Ngô Thanh T đến quán café số 200 Hoàng Minh T2 gặp anh N và anh Tạ Thanh T1, sinh năm 1986, nơi thường trú: số A Đ, phường L, quận B, Hà Nội (đều là nhân viên cửa hàng) để làm thủ tục vay tiền. Sau khi kiểm tra xe ôtô, anh N đã hướng dẫn T ký hợp đồng cầm đồ còn anh T1 thông báo cho anh Phạm Văn H, sinh năm 1984, nơi thường trú: số A khu đô thị L, H, Hà Nội (quản lý cửa hàng cầm đồ) để anh H chuyển trước số tiền 30.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của T. Sau khi kiểm tra, phát hiện đăng ký xe ôtô của T là giả, anh T1 đã báo lại để anh H dừng việc chuyển tiền tiếp cho T theo hợp đồng. Anh N đã trình báo và Công an phường N đã đến đưa T về trụ sở Công an phường để làm việc, thu giữ của T 01 xe ôtô MG5 biển kiểm soát 15K-162.20, 01 đăng ký xe ôtô mang tên Ngô Thanh T, 01 điện thoại Iphone 6s màu hồng.
Anh Vũ Công Đ, sinh năm 1987, nơi thường trú: P, phường A, quận D, Hải Phòng (chủ quán café) tự nguyện giao nộp 01 usb chứa đoạn video ghi lại hình ảnh vụ việc.
Tại Kết luận giám định số 1352 ngày 09/5/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: 01 chứng nhận đăng ký xe ôtô số 15 000486 mang tên chủ xe Ngô Thanh T là giả, làm giả bằng phương pháp in phun màu.
Tại Kết luận giám định số 1856 ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Xe ôtô con, nhãn hiệu MG, biển kiểm soát 15K-162.20 có số khung, số máy là số nguyên thủy, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự.
Xác minh chủ xe là ông Ngô Thanh B, sinh năm 1963, địa chỉ: T, N, K, Hải Phòng (bố đẻ T). Tại Cơ quan điều tra, ông B khai: ông B mua trả góp 01 xe ôtô nhãn hiệu MG và đăng ký biển kiểm soát 15K-162.20 bằng hình thức vay thế chấp tại Ngân hàng TMCP V từ tháng 12/2023. Ông B cho T mượn xe ôtô sử dụng để làm ăn nhưng không đưa bản chính đăng ký xe cho T do ngân hàng giữ bản chính đăng ký xe theo hồ sơ vay. Ông không nói cho T biết việc ông mua xe bằng hình thức vay thế chấp tại ngân hàng. Ông đồng ý cho T vay số tiền 200.000.000 đồng để làm ăn nhưng do số tiền lớn nên cần thời gian 02-03 tuần để thu xếp. Ông đã bồi thường số tiền 30.000.000 đồng cho anh H theo tác động của T.
Tại Cơ quan điều tra, Ngô Thanh T khai nhận như nội dung nêu trên. Ngoài ra, còn khai: do cần tiền để làm ăn, T đã nảy sinh cầm cố xe ôtô biển kiểm soát 15K-162.20 và đăng ký. T dự định khoảng 02-03 tuần, sau khi ông B thu xếp được tiền cho vay thì T sẽ mang tiền đến trả cho cửa hàng cầm đồ và lấy xe cùng đăng ký về.
Về vật chứng: chuyển theo hồ sơ vụ án 01 đăng ký xe giả mang tên Ngô Thanh T, 01 usb ghi lại hình ảnh vụ việc ngày 08/5/2024. Chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận L 01 điện thoại Iphone 6S màu hồng.
Đối với 01 xe ôtô biển kiểm soát 15K-162.20 của ông Ngô Thanh B, do ông đang thế chấp để vay tiền tại Ngân hàng TMCP V nên ông B và ngân hàng T3 giao xe cho ngân hàng để tất toán hợp đồng tín dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho Ngân hàng TMCP V.
Về trách nhiệm dân sự: anh Phạm Văn H đã nhận số tiền 30.000.000 đồng từ ông Ngô Thanh B bồi thường thay cho Ngô Thanh T và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Đối với người đã làm giả đăng ký xe cho Ngô Thanh T, do T không biết họ tên, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở điều tra, làm rõ.
Đối với hành vi ngày 08/5/2024, T đem cầm cố xe ôtô MG5 biển kiểm soát 15K-162.20 của ông Ngô Thanh B và 01 đăng ký xe ôtô giả mang tên Ngô Thanh T để vay số tiền 200.000.000 đồng của cửa hàng cầm đồ Trang H1. Tài liệu điều tra thể hiện do T cần tiền gấp nên đem xe đi cầm cố. T dự định sẽ trả lại tiền trong thời gian 02-03 tuần (trong thời hạn ký kết hợp đồng) và mang ôtô về. Hành vi của T không có mục đích chiếm đoạt xe ôtô MG5 biển kiểm soát 15K-162.20 của ông Ngô Thanh B và số tiền 200.000.000 đồng của cửa hàng cầm đồ nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Tại Cáo trạng số 216/CT-VKSLC ngày 29 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Ngô Thanh T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Thanh T mức án từ 12 đến 18 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sư, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 6s màu hồng có số ser: DBQQLVURY8 số IMEI:355418077030851 (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ngày 29/8/2024). Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Ngô Thanh T đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án là ông Ngô Thanh B, anh Nguyễn Hải N, anh Tạ Thanh T1 và anh Phạm Văn H mặc dù đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vắng mặt không lý do. Xét thấy việc vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc xét xử và thi hành án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
[3] Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà là tự nguyện, khách quan phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà là phù hợp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 16 giờ ngày 08/5/2024, Ngô Thanh T có hành vi sử dụng 01 đăng ký xe ôtô nhãn hiệu MG biển kiểm soát 15K-162.20 giả tại khu vực nhà số B H, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng để vay tiền thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo Ngô Thanh T đã phạm vào tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Do vậy Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất của vụ án, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, xâm phạm trật tự quản lý hành chính, sự hoạt động đúng đắn, bình thường và uy tín của cơ quan Nhà nước trong quản lý hành chính. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động ông Ngô Thanh B (là bố đẻ) bồi thường số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) cho anh H nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự .
[7] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hộ đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng 02 lần bị Toà án xét xử tuy đã được xoá án tích song bị cáo không cho đấy là bài học lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt mà Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề xuất là phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Điện thoại mà cơ quan Công an thu giữ của bị cáo xét thấy không phải là công cụ phương tiện phạm tội nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự cần: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 6s
màu hồng có số seri: DBQQLVURY8 số IMEI: 355418077030851 (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ngày 29/8/2024)
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Ngô Thanh T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
Xử phạt bị cáo Ngô Thanh T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 5 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự
Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại Iphone 6s màu hồng có số ser: DBQQLVURY8 số IMEI:355418077030851 (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ngày 29/8/2024)
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Ngô Thanh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Khắc Thịnh |
Bản án số 209/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 209/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NTT sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
