Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 209/2024/DS-ST.

Ngày: 24.09.2024

V/v: Đòi tài sản cho vay.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhâm
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    1. Ông Trần Quốc Sơn
    2. Ông Nguyễn Tiến Chuyển
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hưng – Thư ký Tòa án;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm: Bà Bùi Hoàng Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST- DS ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc: Đòi tài sản cho vay theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2024/QĐXXST - DS ngày 20/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa giữa:

  • - Nguyên đơn: Ông Lê Như C (tên gọi khác: Lê Như L) - Sinh năm 1963; Căn cước công dân số: [...] do Cục trưởng Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 14/06/2022; Địa chỉ: A T, KP B, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Đại diện theo ủy quyền: Công ty L1 - Người đại diện theo pháp luật ông Lương Trường G – Chức vụ Giám đốc; Bà Lê Thị H, Phạm Hạnh N được giới thiệu tham gia tố tụng; Địa chỉ trụ sở: Tầng B số nhà I phố T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. (Có mặt bà H và bà N).
  • - Bị đơn: Bà Hà Thị Hồng T, sinh năm: 1982; Nơi ĐKHKTT: Thôn D, xã P, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi ở hiện nay: Số A L, phường T, quận N, Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện các bản tự khai người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Thông qua mối quan hệ xã hội quen biết trong lúc làm ăn kinh doanh, tôi có cho bà Hà Thị Hồng T vay tổng số tiền là 275.000.000 VNĐ (hai trăm bảy lăm triệu đồng chẵn) theo hình thức chuyển khoản qua số tài khoản 1505205587666 được ghi nhận tại các văn bản sao kê tài khoản thanh toán khách hàng (số tài khoản 31412000019294, tên tài khoản Le N) tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B), cụ thể các lần cho vay như sau:

  1. Ngày 02/09/2017, tôi cho bà Hà Thị Hồng T vay 60.000.000đồng;
  2. Ngày 14/09/2017, tôi cho bà Hà Thị Hồng T vay 15.000.000đồng;
  3. Ngày 04/10/2017, tôi cho bà Hà Thị Hồng T vay 150.000.000đồng;
  4. Ngày 18/10/2017, tôi cho bà Hà Thị Hồng T vay 50.000.000đồng;

Do có nhu cầu sử dụng tiền để lo công việc gia đình và bản thân nên tôi đã nhiều lần liên hệ đề nghị bà T trả lại toàn bộ số tiền nêu trên cho tôi nhưng bà T cố tình trốn tránh không trả. Điều này xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tôi. Vì vậy nay tôi làm đơn này kính đề nghị Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xem xét giải quyết yêu cầu sau:

Buộc bà Hà Thị Hồng T trả lại cho tôi tổng số tiền là 275.000.000 VNĐ (hai trăm bảy lăm triệu đồng chẵn) và lãi theo quy định của pháp luật.

Bà Hà Thị Hồng T trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án bà T không đến Tòa để làm việc theo các lần triệu tập và thông báo. Thẩm phán đã tiến hành lấy lời khai của bà T. Bà T khai nội dung nhưng không ký biên bản. Nội dung bà T khai như sau:

“Hỏi: Mối quan hệ giữa chị và ông Lê Như C tên gọi khác là Lê Như L?

Đáp: Tôi và anh L yêu nhau từ tháng 7/2017. Trong quá trình yêu nhau thì anh L tự nguyện chuyển khoản cho tôi vào số tài khoản 150520587666 mở tại ngân hàng N1 chi nhánh T1.

Hỏi: Theo yêu cầu khởi kiện của ông Lê Như C thì ông C chuyển khoản cho chị vào các ngày: Ngày 02/09/2017số tiền 60.000.000 đồng; Ngày 14/09/2017 số tiền 15.000.000đồng; Ngày 04/10/2017 số tiền 150.000.000đồng; Ngày 18/10/2017 số tiền 50.000.000đồng chị có ý kiến gì về các giao dịch ông C chuyển tiền cho chị?

Đáp: Tôi và ông C có mối quan hệ yêu nhau khi tôi gặp khó khăn ông C chuyển tiền cho tôi chứ tôi không vay của ông C. Các giao dịch trên phát sinh từ năm 2017 nên tôi không nhớ được chính xác số tiền ông C chuyển cho tôi.

Hỏi: Chị có ý kiến như thế nào về yêu cầu khởi kiện của ông C?

Đáp: Tôi khẳng định tôi không vay của ông C mà do có mối quan hệ yêu nhau nên ông C tự nguyện giúp tôi số tiền trên”.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của ông C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Giao dịch giữa ông Lê Như C và bà Hà Thị Hồng T và giao dịch cho vay tài sản, không thỏa thuận về lãi suất, không kỳ hạn.

Từ tháng 9/2017 đến hết tháng 10/2017, ông C đã cho bà T vay số tiền 275.000.000 đồng. Việc cho vay được được thực hiện qua hình thức chuyển khoản ngân hàng từ số tài khoản số tài khoản 31412000019294, tên tài khoản L2 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B) đến số tài khoản 1505205587666, tên tài khoản Ha Thi H tại Ngân hàng N1. Tại biên bản ghi lời khai ngày 06/08/2024, bà Hà Thị Hồng T đã thừa nhận việc có nhận chuyển khoản số tiền nêu trên.

Cụ thể các lần chuyển khoản cho vay được ghi nhận tại các văn bản sao kê tài khoản thanh toán khách hàng như sau:

  1. 10h45p ngày 02/09/2017, chuyển khoản 10.000.000 đồng, nội dung giao dịch: “giao dich cho vay ngoai HA THI HONG THAM 02 lan giao dich la 60 trieu dong chan”;
  2. 10h39p ngày 02/09/2017, chuyển khoản 50.000.000 đồng, nội dung giao dịch: "giao dich cho vay ngoai";
  3. 18h21p ngày 14/09/2017, chuyển khoản 15.000.000 đồng, nội dung giao dịch: “Cho vay ngoai lam kt Ha thi hong Tham ngay 14 thang 9 năm 2017.";
  4. 15h02p ngày 04/10/2017, chuyển khoản 50.000.000 đồng, nội dung giao dịch: “Ck cho HathihongTham vay ngoai lai suat theo thoa thuan de kinh doanh".
  5. 15h05 ngày 04/10/2017, chuyển khoản 50.000.000 đồng, nội dung giao dịch: “Ck cho HathihongTham vay ngoai lai suat theo thoa thuan de kinh doanh".
  6. 15h08p ngày 04/10/2017, chuyển khoản 50.000.000 đồng, nội dung giao dịch: “Ck cho HathihongTham vay ngoai lai suat theo thoa thuan de kinh doanh".
  7. 16h21p ngày 18/10/2017, chuyển khoản 50.000.000 đồng, nội dung giao dịch: “chuyen tien vay ngoai phuc vu kd".

Theo sao kê chuyển khoản, tất cả các giao dịch chuyển khoản cho bà Hà Thị Hồng T đều được ông C ghi đủ nội dung giao dịch, phân biệt rõ ràng giữa các khoản cho và khoản vay. Bởi vậy, căn cứ vào nội dung giao dịch, khẳng định rằng số tiền 275.000.000đồng là tiền cho vay.

Căn cứ Điều 463, Bộ luật Dân sự năm 2015: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay...” Về mặt chủ thể, vào thời điểm giao kết hợp đồng, ông C và bà T đều đầy đủ năng lực hành vi dân sự, giao kết hợp đồng tự nguyện, không bị ép buộc. Về mặt ý chí, các nội dung chuyển khoản thể hiện rõ các giao dịch giữa 2 bên là giao dịch cho vay. Mục đích vay không trái với quy định pháp luật, thuần phong mỹ tục. Hợp đồng đã được thực hiện, bên cho vay giao tài sản cho bên vay thông qua chuyển khoản ngân hàng. Về hình thức, quy định pháp luật không bắt buộc hợp đồng vay tài sản phải giao kết bằng văn bản, trong trường hợp này các bên giao kết hợp đồng bằng lời nói theo khoản 1, Điều 119, Bộ Luật Dân sự năm 2015:

“Hình thức giao dịch dân sự: Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói”. Ông C và bà T không có thỏa thuận về kỳ hạn vay và lãi suất.

Như vậy, giao dịch giữa ông C và bà T là hợp đồng vay tài sản thể hiện bằng lời nói, không có thỏa thuận về lãi suất, không có kỳ hạn vay, số tiền vay là 275.000.000 đồng.

1. Việc bà Hà Thị Hồng T cho rằng ông C cho bà số tiền 275.000.000 đồng trên là không có căn cứ.

Theo lời khai của bà T, ông C và bà T có mối quan hệ tình cảm. Đây là lời khai của một phía, không có chứng cứ chứng minh. Chúng tôi khẳng định ông C và bà T chỉ có quan hệ quen biết trong làm ăn kinh doanh, không có mối quan hệ khác.

Mặt khác, các giao dịch chuyển tiền ông C đều ghi nội dung để phân biệt giữa các khoản vay và các khoản cho. Đối với các khoản khác như 1.000.000 đồng chuyển khoản ngày 17/9/2017 nội dung "chuyen tien mung sn con tai", ông C đều không yêu cầu trả lại mà chỉ đòi lại các khoản có ghi nội dung “cho vay".

2. Bà Hà Thị Hồng T có nghĩa vụ hoàn trả tiền vay và lãi suất chậm trả theo quy định pháp luật.

2.1. Đối với nghĩa vụ hoàn trả số tiền 275.000.000đồng

Theo các phân tích bên trên, số tiền 275.000.000đồng là tiền cho vay, bởi vậy bà T có nghĩa vụ hoàn trả cho ông C.

3. Đối với nghĩa vụ trả lãi:

Căn cứ Điều 469, Bộ luật Dân sự năm 2015: “Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Căn cứ Điều 357, Bộ luật Dân sự năm 2015:

“1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự là 10%/năm.”

Đầu năm 2023, ông C đã nhiều lần liên lạc yêu cầu bà T trả tiền nhưng bà T liên tục trốn tránh. Bởi vậy, ông C đã thực hiện khởi kiện bà T tại Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm. Theo phiếu gửi số 1711963011101 tại Tổng Công ty Cổ phần B1, ngày 08/12/2023, bà T đã nhận được hồ sơ khởi kiện của ông C về yêu cầu bà T hoàn trả số tiền vay.

Mặc dù, nghĩa vụ hoàn trả số tiền vay của bà T phát sinh sau khi ông C yêu cầu bà T trả tiền, nhưng vì không thu thập được chứng cứ xác minh thời điểm này nên chúng tôi chỉ yêu cầu bà T chịu lãi suất từ thời điểm bà T nhận được hồ sơ khởi kiện của ông C tới khi bản án có hiệu lực pháp luật, đây là thời điểm có căn cứ khẳng định bà T buộc phải biết về yêu cầu trả tiền vay của ông C.

Từ những phân tích nếu trên, nay, chúng tôi kính đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Như C:

  1. Buộc bà Hà Thị Hồng T trả lại số tiền 275.000.000 đồng.
  2. Buộc bà Hà Thị Hồng T trả số tiền lãi chậm trả tính trên nợ gốc 275.000.000đồng, lãi suất 10%/năm, tạm tính từ ngày 08/12/2023 đến ngày 24/09/2024 là 21.924.658 đồng và tiền lãi đến thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật.

Đại điện viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa phát biểu như sau:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Từ Liêm phát biểu ý kiến yêu cầu tiến hành đối chất giữ Nguyên đơn và Bị đơn làm rõ các khoản vay nào là có lãi, khoản vay nào là không có lãi, để làm căn cứ giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Vê tố tụng: Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Đây là vụ án “Đòi tài sản cho vay”, bị đơn trong vụ án là Bà: Hà Thị Hồng T, sinh năm: 1982; Nơi ĐKHKTT: Thôn D, xã P, Sông L, Vĩnh Phúc; Nơi ở hiện nay: Số A L, phường T, quận N, Thành phố Hà Nội, nên Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Xét yêu cầu của đại diện Viện kiểm sát: Tiến hành đối chất giữ Nguyên đơn và bị đơn làm rõ các khoản vay nào là có lãi, khoản vay nào là không có lãi làm căn cứ giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ lãi từ ngày bị đơn nhận được hồ sơ khởi kiện của nguyên đơn gửi là có căn cứ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phần trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa thể hiện:

Từ tháng 9/2017 đến hết tháng 10/2017, ông C đã cho bà T vay số tiền 275.000.000 đồng. Việc cho vay được được thực hiện qua hình thức chuyển khoản ngân hàng từ số tài khoản số tài khoản 31412000019294, tên tài khoản L2 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B) đến số tài khoản 1505205587666, tên tài khoản Ha Thi H tại Ngân hàng N1. Tại biên bản ghi lời khai ngày 06/08/2024, bà Hà Thị Hồng T đã thừa nhận việc có nhận chuyển khoản số tiền nêu trên.

Cụ thể các lần chuyển khoản cho vay được ghi nhận tại các văn bản sao kê tài khoản thanh toán khách hàng như sau:

  • - 10h45p ngày 02/09/2017, chuyển khoản 10.000.000đồng, nội dung giao dịch: “giao dich cho vay ngoai HA THI HONG THAM 02 lan giao dich la 60 trieu dong chan”.
  • - 10h39p ngày 02/09/2017, chuyển khoản 50.000.000 đồng, nội dung giao dịch: "giao dich cho vay ngoai”.
  • - 18h21p ngày 14/09/2017, chuyển khoản 15.000.000 đồng, nội dung giao dịch: “Cho vay ngoai lam kt Ha thi hong Tham ngay 14 thang 9 năm 2017”.
  • - 15h02p ngày 04/10/2017, chuyển khoản 50.000.000 đồng, nội dung giao dịch: “Ck cho HathihongTham vay ngoai lai suat theo thoa thuan de kinh doanh".
  • - 15h05 ngày 04/10/2017, chuyển khoản 50.000.000 đồng, nội dung giao dịch: “Ck cho HathihongTham vay ngoai lai suat theo thoa thuan de kinh doanh".
  • - 15h08p ngày 04/10/2017, chuyển khoản 50.000.000đồng, nội dung giao dịch: "Ck cho HathihongTham vay ngoai lai suat theo thoa thuan de kinh doanh".
  • - 16h21p ngày 18/10/2017, chuyển khoản 50.000.000 đồng, nội dung giao dịch: “chuyen tien vay ngoai phuc vu kd”.

Theo sao kê chuyển khoản, tất cả các giao dịch chuyển khoản cho bà Hà Thị Hồng T đều được ông C ghi đủ nội dung giao dịch, phân biệt rõ ràng giữa các khoản cho và khoản vay. Bởi vậy, căn cứ vào nội dung giao dịch, khẳng định rằng số tiền 275.000.000 đồng là tiền cho vay.

Nguyên đơn yêu cầu bà Hà Thị Hồng T trả cho nguyên đơn số tiền như sau:

  1. Buộc bà Hà Thị Hồng T trả lại số tiền 275.000.000 đồng.
  2. Buộc bà Hà Thị Hồng T trả số tiền lãi tính trên nợ gốc 275.000.000 đồng, lãi suất 10%/năm, tạm tính từ ngày 08/12/2023 là ngày nguyên đơn gửi đơn khởi kiện cho bà T đến ngày xét xử 23/09/2024 là 21.924.658 đồng và tiền lãi đến thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật.

Hội đồng xét xử nhận thấy các lần giao dịch chuyển tiền của ông Lê Như C và bà Hà Thị Hồng T đề có nội dung chuyển khoản là tiền cho vay. Có giao dịch chuyển khoản ghi lãi suất và có giao dịch không ghi lãi suất. Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tính lãi suất từ ngày ông C gửi đơn khởi kiện cho bà T là ngày 08/12/2023 đến ngày 24/09/2024. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Hà Thị Hồng T phải thanh toán cho ông Lê Như C số tiền như sau:

  1. Buộc bà Hà Thị Hồng T trả lại số tiền 275.000.000đồng;
  2. Buộc bà Hà Thị Hồng T trả số tiền lãi tính trên nợ gốc 275.000.000 đồng, lãi suất 10%/năm, tạm tính từ ngày 08/12/2023 là ngày nguyên đơn gửi đơn khởi kiện cho bà T đến ngày xét xử 24/09/2024 là 21.924.658 đồng và tiền lãi đến thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Bà Hà Thị Hồng T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Ông Lê Như C thuộc đối tượng được miễn nộp tạm ứng án phí theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, có quyền kháng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  • - Áp dụng: Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147; khoản 2 Điều 227; điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Áp dụng Điều 463; Điều 466; Điều 357; Điều 468; Điều 469; Bộ luật dân sự năm 2015.
  • - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Như C tên gọi khác là Lê Như L đối với bà Hà Thị Hồng T về việc Đòi tài sản cho vay.
  2. Buộc bà Hà Thị Hồng T trả cho ông Lê Như C (tên gọi khác là Lê Như L) số tiền:
    • - Nợ gốc số tiền: 275.000.000đồng.
    • - Số tiền lãi tính trên nợ gốc 275.000.000đồng, lãi suất 10%/năm, tạm tính từ ngày 08/12/2023 là ngày nguyên đơn gửi đơn khởi kiện cho bà T, đến ngày xét xử 24/09/2024 là: 21.924.658đồng.

Tổng gốc và lãi: 296.924.658đồng (Hai trăm chín mươi sáu triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm năm mươi tám đồng).

Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Bà Hà Thị Hồng T phải chịu 14.846.232đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - VKSND Tp Hà Nội;
  • - TAND TP Hà Nội;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Trần Thị Nhâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về đòi tài sản cho vay

  • Số bản án: 209/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đòi tài sản cho vay
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA số 209.2024.DSST ngày 24 tháng 09 năm 2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger