Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 209/2024/DS-ST
Ngày 16-7-2024
V/v tranh chấp hợp đồng
tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Ngọc.

Các Hội Thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Văn Dũng;
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 411/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N1; Địa chỉ trụ sở: Số A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội; Địa chỉ chi nhánh: F S, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1 là: Ông Lê Ngọc Đ, sinh năm 1984. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H – sinh năm 1957; Địa chỉ thường trú: 70N1, M, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà De Montalembert Jade N, sinh năm 1995; Địa chỉ thường trú: 70N1, M, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên lạc: 78 Đường N, M, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

- Ông Lê Ngọc Đ là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ phần N1 trình bày:

Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh H3 (VCB H) và bà Nguyễn Thị Thu H đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 0159/TN/16DH ngày 07/6/2016; Hợp đồng cho vay số 0329/HVU.TN19DH ngày 10/7/2019 và Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 078/HVU.TN20DH ngày 20/01/2020 và các hợp đồng sửa đổi bổ sung về việc cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thị Thu H cụ thể như sau:

Khoản vay 1: Hợp đồng tín dụng số 0159/TN/16DH ngày 07/6/2016

- Số tiền cho vay: 1.935.920.000đ (Một tỷ, chín trăm ba mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi ngàn đồng).

- Mục đích cho vay: Thanh toán tiền mua nhà và đất ở tại lô H thuộc dự án MEGA VILLAGE tại phường P, Quận I, Tp ..

- Thời hạn cho vay: 180 tháng

- Kỳ hạn trả nợ: Trong 180 kỳ, mỗi kỳ 1 tháng/lần

Khoản vay 2: Hợp đồng cho vay số 0329/HVU.TN19DH ngày 10/7/2019

- Số tiền cho vay: 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng)

- Mục đích cho vay: Thanh toán tiền mua Căn hộ số 5.10 (Chung cư B, lô G), phường B, Quận B, Tp ..

- Thời hạn cho vay: 156 tháng

- Kỳ hạn trả nợ: Trong 156 kỳ, mỗi kỳ 1 tháng/lần

Khoản vay 3: Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 078/HVU.TN20DH ngày 20/01/2020

- Số tiền cho vay: 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng)

- Mục đích cho vay: Thanh toán tiền đầu tư trang thiết bị, trang trí nội thất trong gia đình.

- Thời hạn cho vay: 120 tháng

- Kỳ hạn trả nợ: Trong 120 kỳ, mỗi kỳ 1 tháng/lần

Tài sản thế chấp:

Để đảm bảo cho các khoản vay nêu trên, bà Nguyễn Thị Thu H có ký kết với Ngân hàng các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 0326/HVU.TN18HĐBĐ ngày 10/7/2018, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 0331/HVU.TN19HĐBĐ ngày 10/7/2019, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 080/HVU.TN20HĐBĐ ngày 20/01/2020. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số G Đường N, Khu phố C, phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành

3

phố T, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 13/7/2018, ngày 12/7/2019 và ngày 21/01/2020.

Tính đến ngày 16/7/2024, bà Nguyễn Thị Thu H còn nợ Ngân hàng các khoản sau:

+ Đối với Hợp đồng cho vay số 0159 ngày 07/6/2016: Nợ gốc là 997.639.110đ, Nợ lãi là 151.982.774đ, Nợ lãi quá hạn là 5.846.584₫

+ Đối với Hợp đồng cho vay số 0329 ngày 10/7/2019: Nợ gốc là 731.200.000đ, Nợ lãi là 109.640.171đ, Nợ lãi quá hạn là 3.690.441₫

+ Đối với Hợp đồng cho vay số 078 ngày 20/01/2020: Nợ gốc là 701.200.000đ, Nợ lãi là 107.942.531đ, Nợ lãi quá hạn là 4.933.805₫

Như vậy, tổng số tiền mà bà Nguyễn Thị Thu H còn nợ Ngân hàng tạm tính đến ngày 16/7/2024 là 2.814.075.416đ. Trong đó: Nợ gốc là 2.430.039.110đ, Nợ lãi trong hạn là 369.565.476đ, Nợ lãi quá hạn là 14.470.830₫

Kể từ ngày 27/02/2023 cho đến nay, bà Nguyễn Thị Thu H đã vi phạm Hợp đồng cho vay, cụ thể không thanh toán gốc, lãi cho Ngân hàng mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần liên lạc với bà Nguyễn Thị Thu H qua nhiều hình thức như gọi điện thoại, nhắn tin, gửi Thông báo quá hạn, đến trực tiếp tại nơi đăng ký hộ khẩu tuy nhiên đến nay bà Nguyễn Thị Thu H vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng đã ký kết và không phản hồi lại các nội dung theo các Thông báo quá hạn cho Ngân hàng.

Do đó, nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1 yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:

- Yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu H phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 16/7/2024 là 2.814.075.416đ. Trong đó: Nợ gốc là 2.430.039.110đ, Nợ lãi trong hạn là 369.565.476₫, Nợ lãi quá hạn là 14.470.830₫

- Yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu H phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 0159/TN/16DH ngày 07/6/2016; Hợp đồng cho vay số 0329/HVU.TN19DH ngày 10/7/2019 và Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 078/HVU.TN20DH ngày 20/01/2020 và các hợp đồng sửa đổi bổ sung về việc cấp tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án/quyết định cho đến ngày thực tế bà Nguyễn Thị Thu H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng.

- Nếu bà Nguyễn Thị Thu H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của bà Nguyễn Thị Thu H theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và nhà ở số 0326/HVU.TN18HĐBĐ ngày 10/7/2018; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 0331/HVU.TN19HĐBĐ ngày 10/7/2019 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 080/HVU.TN20HĐBĐ ngày 20/01/2020 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

4

- Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 thì bà Nguyễn Thị Thu H tiếp tục có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng.

*Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H có ý kiến như sau: Tôi xác nhận tính đến ngày 16/7/2024 thì tôi còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 2.814.075.416đ. Trong đó: Nợ gốc là 2.430.039.110đ, Nợ lãi trong hạn là 369.565.476đ, Nợ lãi quá hạn là 14.470.830đ. Tôi đồng ý trả số tiền còn nợ nêu trên nhưng yêu cầu Ngân hàng cho tôi thời hạn 10 ngày để trả số tiền còn nợ này. Trường hợp, hết thời hạn 10 ngày mà tôi không trả hoặc trả không đầy đủ thì tôi sẽ tự chủ động bán tài sản bảo đảm để tất toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà De Montalembert Jade N, sinh năm 1995: Tôi thống nhất với ý kiến như đã trình bày tại phiên tòa của mẹ tôi – bà Nguyễn Thị Thu H.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước khi nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:

Xét, theo Đơn khởi kiện đề ngày 21/8/2023 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định đây là Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Xét, các Hợp đồng tín dụng số 0159/TN/16DH ngày 07/6/2016, Hợp đồng cho vay số 0329/HVU.TN19DH ngày 10/7/2019 và Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 078/HVU.TN20DH ngày 20/01/2020 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 – Chi nhánh H3 với bà Nguyễn Thị Thu H tại địa chỉ F S, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 35, điểm g Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.2] Về tư cách của đương sự:

Theo Kết quả xác minh đề ngày 17/11/2023 của Công an phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh thì căn nhà số G Đường N, Khu phố C, phường P, Quận I (nay là thành phố T) có bà De Montalembert Jade N,

5

sinh năm 1995 thực tế cư trú. Xét, việc Ngân hàng có yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số G Đường N, Khu phố C, phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh trong trường hợp bà Nguyễn Thị Thu H không trả hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thực tế cư trú tại căn nhà nêu trên nên theo khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự thì cần thiết phải đưa bà De Montalembert Jade N, sinh năm 1995 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về yêu cầu trả nợ gốc và nợ lãi của Hợp đồng tín dụng số 0159/TN/16DH ngày 07/6/2016, Hợp đồng cho vay số 0329/HVU.TN19DH ngày 10/7/2019 và Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 078/HVU.TN20DH ngày 20/01/2020.

[2.1.1] Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Giữa Ngân hàng TMCP N1 (viết tắt là Ngân hàng) với bà Nguyễn Thị Thu H có ký với nhau Hợp đồng tín dụng số 0159/TN/16DH ngày 07/6/2016 và Hợp đồng tín dụng sửa đổi bổ sung số 01 ngày 10/7/2018 theo đó Ngân hàng đồng ý cho bà H vay 1.935.920.000đ để thanh toán tiền mua nhà và đất ở tại lô H thuộc dự án M tọa lạc tại phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh với thời hạn là 180 tháng, lãi suất cho vay trong 12 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên là 7,5%/năm, lãi suất tiếp theo bằng lãi suất tiết kiệm VNĐ 24 tháng trả sau do bên cho vay công bố cộng (+) 3,5%/năm và được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Thực hiện hợp đồng, ngày 08/6/2016 Ngân hàng đã giải ngân số tiền 1.797.640.000đ cho bà H bằng hình thức chuyển khoản. Đến ngày 10/7/2019 giữa Ngân hàng với bà H tiếp tục ký với nhau Hợp đồng cho vay số 0329/HVU.TN19DH theo đó Ngân hàng đồng ý cho bà H vay 1.000.000.000₫ với thời hạn là 156 tháng, lãi suất cho vay trong 24 tháng kể từ ngày giải ngân dầu tiền là 8,9%/năm, lãi suất tiếp theo bằng lãi suất tiết kiệm VNĐ 24 tháng trả sau do Ngân hàng công bố cộng 3,5%/năm và được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Thực hiện hợp đồng, ngày 11/7/2019 Ngân hàng đã giải ngân số tiền 1.000.000.000đ cho bà H bằng hình thức chuyển khoản. Đến ngày 20/01/2020 giữa Ngân hàng với bà H tiếp tục ký với nhau Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 078/HVU.TN20DH theo đó Ngân hàng đồng ý cho bà H vay 1.000.000.000₫ với thời hạn vay là 120 tháng, lãi suất cho vay được áp dụng theo thông báo lãi suất cho vay tiêu dùng của Ngân hàng và được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn. Cùng ngày, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 1.000.000.000₫ cho bà H bằng hình thức chuyển khoản. Xét, các Hợp đồng tín dụng số 0159/TN/16DH ngày 07/6/2016 và Hợp đồng tín dụng sửa đổi bổ sung số 01 ngày 10/7/2018, Hợp đồng cho vay số 0329/HVU.TN19DH ngày 10/7/2019, Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 078/HVU.TN20DH ngày 20/01/2020 có hình thức và nội dung phù hợp theo quy định tại Điều 117, 118 và 119 Bộ luật Dân sự nên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.

6

[2.1.2] Quá trình thực hiện các hợp đồng cho vay nêu trên, tính từ ngày giải ngân cho đến ngày 17/11/2023 thì đối với Hợp đồng cho vay số 0159 ngày 07/6/2016 bị đơn chỉ trả cho Ngân hàng nợ gốc 938.280.890đ và nợ lãi 921.781.219đ; đối với Hợp đồng cho vay số 0329 ngày 10/7/2019 bị đơn chỉ trả được 268.800.000đ tiền gốc và 287.752.864đ tiền lãi; đối với Hợp đồng cho vay số 078 ngày 20/01/2020 bị đơn chỉ trả được 298.800.000đ tiền gốc và 283.564.647đ tiền lãi. Theo nội dung đã thỏa thuận tại các Hợp đồng cho vay nêu trên thì hàng tháng bị đơn có nghĩa vụ trả tiền gốc và tiền lãi cho nguyên đơn, tuy nhiên bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho nguyên đơn kể từ ngày 27/02/2023 cho đến nay mặc dù đã được Ngân hàng nhiều lần thông báo, nhắc nhở. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định tại Điều 8 của Hợp đồng số 0159 ngày 07/6/2016, Điều 11 của Hợp đồng số 0329 ngày 10/7/2019 và Điều 8 của Hợp đồng số 078 ngày 20/01/2020 nên yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc bị đơn trả nợ gốc, nợ lãi quá hạn, nợ lãi trong hạn là có cơ sở, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2024.

[2.1.3] Theo Điều 3 của Hợp đồng số 0159 ngày 07/6/2016 thì “...lãi suất cho vay trong 12 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên: cố định 7,5%/năm. Lãi suất trong thời gian tiếp theo: bằng lãi suất tiết kiệm VND 24 tháng trả sau do Bên Cho Vay công bố cộng (+) 3,5%/năm...Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn...”. Điều 6 của Hợp đồng cho vay số 0329 ngày 10/7/2019 thì “...Giải ngân trong tháng 07/2019: 8,9%/năm cố định trong 24 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Lãi suất trong thời gian tiếp theo: bằng lãi suất tiết kiệm VNĐ 24 tháng trả sau do Ngân hàng công bố cộng (+) 3,5%/năm...Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn...”. Điều 3 của Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 078 ngày 20/01/2020 thì “...Lãi suất cho vay trong hạn: Áp dụng theo thông báo lãi suất cho vay tiêu dùng phục vụ đời sống trung dài hạn của V1 và được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn là: 150% lãi suất cho vay trong hạn...”. Xét, mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong các hợp đồng cho vay nêu trên gồm lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn là phù hợp theo quy định tại Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy, tính đến ngày ngày 16/7/2024 bị đơn còn nợ nguyên đơn tổng số tiền là 2.814.075.416đ (Hai tỷ, tám trăm mười bốn triệu, không trăm bảy mươi lăm ngàn, bốn trăm mười sáu đồng). Trong đó:

+ Đối với Hợp đồng cho vay số 0159 ngày 07/6/2016: Nợ gốc là 997.639.110đ, Nợ lãi là 151.982.774đ, Nợ lãi quá hạn là 5.846.584₫

+ Đối với Hợp đồng cho vay số 0329 ngày 10/7/2019: Nợ gốc là 731.200.000đ, Nợ lãi là 109.640.171đ, Nợ lãi quá hạn là 3.690.441₫

+ Đối với Hợp đồng cho vay số 078 ngày 20/01/2020: Nợ gốc là 701.200.000đ, Nợ lãi là 107.942.531đ, Nợ lãi quá hạn là 4.933.805₫

7

[2.1.1] Về thời hạn trả nợ: Xét, bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi của các Hợp đồng cho vay số 0159 ngày 07/6/2016, Hợp đồng cho vay số 0329 ngày 10/7/2019 và Hợp đồng cho vay số 078 ngày 20/01/2020 từ ngày 27/02/2023; và cho đến này bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận tại các hợp đồng cho vay nêu trên nên cần buộc bị đơn phải trả một lần tổng số tiền còn nợ là 2.814.075.416₫ (Hai tỷ, tám trăm mười bốn triệu, không trăm bảy mươi lăm ngàn, bốn trăm mười sáu đồng) cho nguyên đơn ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[2.2] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ:

[2.2.1] Để đảm bảo cho các khoản vay phát sinh từ các Hợp đồng tín dụng số 0159/TN/16DH ngày 07/6/2016 và Hợp đồng tín dụng sửa đổi bổ sung số 01 ngày 10/7/2018, Hợp đồng cho vay số 0329/HVU.TN19DH ngày 10/7/2019, Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 078/HVU.TN20DH ngày 20/01/2020 thì bà H có thế chấp cho Ngân hàng Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại số G Đường N, Khu phố C, phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Xét, các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 0326/HVU.TN18HĐBĐ ngày 10/7/2018, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 0331/HVU.TN19HĐBĐ ngày 10/7/2019 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 080/HVU.TN20HĐBĐ ngày 20/01/2020 đều được công chứng tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đ1 vào các ngày 13/7/2018, 12/7/2019 và 21/01/2020. Tại thời điểm ký các Hợp đồng thế chấp nêu trên thì tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thu H, các bên trong các Hợp đồng thế chấp thỏa thuận xuất phát từ sự tự nguyện, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Căn cứ Điều 117, 118, 119, 317, 318, 319 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014; Điều 95 Luật Đất đai năm 2013; Điều 4, Điều 5 và Điều 6 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 thì các Hợp đồng thế chấp nêu trên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.

[2.2.2] Theo khoản 4.1, khoản 4.8 Điều 4, khoản 5.14 Điều 5 của các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 0326/HVU.TN18HĐBĐ ngày 10/7/2018, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 0331/HVU.TN19HĐBĐ ngày 10/7/2019 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 080/HVU.TN20HĐBĐ ngày 20/01/2020 thì:

“...Ngân hàng có quyền xử lý Tài Sản Bảo Đảm khi xảy ra ít nhất một Sự kiện Vi phạm và/hoặc theo quy định của pháp luật (bao gồm nhưng không giới hạn ở trường hợp Tài Sản Bảo Đảm phải được xử lý để Bên Bảo Đảm thực hiện nghĩa vụ khác) và/hoặc quy định tại Hợp đồng. Việc xử lý Tài Sản B được thực hiện theo quy định tại Hợp Đồng và quy định của pháp luật...”;

“...Nếu tiền thu được từ việc xử lý Tài Sản Bảo Đảm theo Điều 4 Các Điều Khoản C không đủ thanh toán các chi phí và Nghĩa V Được Bảo Đảm theo Điều 4.7 Các Điều Khoản C thì Bên Bảo Đảm (trong trường hợp Bên Bảo Đảm đồng thời là Khách Hàng) vẫn phải chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ phần còn

8

thiếu đó. Trường hợp Bên Bảo Đảm không đồng thời là Khách H1 thì Khách Hàng vẫn phải chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ phần còn thiếu đó...”;

“...Sự Kiện Vi Phạm có nghĩa là bất kỳ vi phạm nào của Bên Bảo Đảm và/hoặc Khách hàng theo quy định tại Các Tài Liệu Giao Dịch, bao gồm nhưng không giới hạn ở vi phạm nghĩa vụ, vi phạm cam kết, vi phạm cam đoan hoặc bảo đảm sai, Khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ khi đến hạn thực hiện Nghĩa vụ được Bảo Đảm, Khách H1 phải thực hiện Nghĩa Vụ Được Bảo Đảm chưa đến thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận...”.

Như vậy, việc bà H vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và tiền lãi từ ngày 27/02/2023 cho Ngân hàng đã làm phát sinh quyền của bên nhận thế chấp tại các Hợp đồng thế chấp nêu trên nên yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ và buộc bà H có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại đối với trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để trả nợ cho Ngân hàng là có cơ sở, phù hợp với nội dung mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 0326/HVU.TN18HĐBĐ ngày 10/7/2018, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 0331/HVU.TN19HĐBĐ ngày 10/7/2019 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 080/HVU.TN20HĐBĐ ngày 20/01/2020, phù hợp theo quy định tại Điều 299, 301, 320, 322, 323 Bộ luật Dân sự.

[2.3] Căn cứ Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 thì “...Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật...”; “Mức lãi suất hai bên thỏa thuận hướng dẫn tại khoản 1 điều này là mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc tại Tòa án. Trường hợp, các bên không có thỏa thuận về mức lãi suất nợ quá hạn thì mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn” nên yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 17/7/2024 cho đến khi trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 0159/TN/16DH ngày 07/6/2016 và Hợp đồng tín dụng sửa đổi bổ sung số 01 ngày 10/7/2018, Hợp đồng cho vay số 0329/HVU.TN19DH ngày 10/7/2019, Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 078/HVU.TN20DH ngày 20/01/2020 là có cơ sở nên được chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận nhưng do bị đơn thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí Tòa án.

9

[4] Về chi phí tố tụng khác: Căn cứ Điều 157 và 158 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm g Khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 68, Điều 147, Điều 157, 158, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 117, 118, 119, 299, 301, 317, 318, 319, 320, 322, 323, 688 Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ Điều 91, 95 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014; Điều 95 Luật Đất đai năm 2013;
  • - Căn cứ Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đăng ký biện pháp bảo đảm;
  • - Căn cứ Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2008.

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1.1 Buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 16/7/2024 là 2.814.075.416đ. Trong đó: Nợ gốc là 2.430.039.110đ, Nợ lãi trong hạn là 369.565.476đ, Nợ lãi quá hạn là 14.470.830₫

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

1.2 Trường hợp bà Nguyễn Thị Thu H không trả hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số G Đường N, Khu phố C, phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy

10

chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số CS22694/DA do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 17/5/2018.

1.3 Trường hợp tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 thì bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu H – sinh năm 1957 thuộc trường hợp người cao tuổi nên bà H được miễn nộp tiền án phí Tòa án là 88.281.508đ (T mươi tám triệu, hai trăm tám mươi mốt ngàn, năm trăm lẻ tám đồng). H2 lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 41.898.875₫ (Bốn mươi mốt triệu, tám trăm chín mươi tám ngàn, tám trăm bảy mươi lăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0035702 ngày 03/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10.

3. Về chi phí tố tụng khác: Bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ hoàn trả 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Tp.HCM;THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
VKSND Tp.HCM;
- VKSND Q.10, Tp.HCM
- Chi cục THADS Q.10, Tp.HCM;
- Đương sự;Nguyễn Bảo Ngọc
- Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2024/DS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 209/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger