TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 209/2024/DS-PT
Ngày 26/11/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ái Loan
Các Thẩm phán: Ông Ngô Đê
Bà Ngô Thị Kim Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Hương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 246/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 128/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần K
- Địa chỉ: số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, chức vụ: Tổng Giám đốc.
- Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K: Ông Lê Văn H và bà Lê Thị Thúy V, chức vụ: chuyên viên Phòng xử lý nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần K; (vắng mặt)
- - Bị đơn:
- Ông Nguyễn Phong S sinh năm 1954,
- Bà Nguyễn Thị H1 sinh năm 1958,
- Cùng địa chỉ: ấp K, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- - Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Phong S và bà Nguyễn Thị H1: Ông Trầm Phú L sinh năm 1992, trú tại: ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh; (có mặt)
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Tấn B sinh năm 1980; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Thảo N sinh năm 1984; (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: khóm A, phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh;
- Ông Nguyễn Tiến M1 sinh năm 1979; trú tại: ấp K, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- - Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Tiến M1: Ông Trầm Phú L sinh năm 1992, trú tại: ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh; (có mặt)
- Ông Võ Minh T sinh năm 1976; (vắng mặt)
- Ông Võ Văn N1 sinh năm 1971; (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: ấp B, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- - Người kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần K là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K trình bày:
Ngày 19/3/2010 giữa ông Nguyễn Phong S và bà Nguyễn Thị H1 có ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng G. Theo hợp đồng tín dụng số TD0293/HĐTD ngày 19/3/2010 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TC0293/HĐTC ngày 19/3/2010 thể hiện: ông S và bà H1 vay của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng G số tiền 360.000.000 đồng, mục đích bảo lãnh cho cháu là ông Nguyễn Tiến M1 làm cộng tác viên, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất 0,874%/tháng; lãi nợ quá hạn là 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; hình thức thanh toán trả cuối kỳ, gốc trả cuối kỳ. Tài sản đảm bảo khoản vay là 3 quyền sử dụng đất thửa số 687, thửa số 691, thửa số 465, cùng tờ bản đồ số 4, toạ lạc ấp K, xã T, thị xã D do hộ ông S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hợp đồng tín dụng số TD0293/HĐTD ngày 19/3/2010 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TC0293/HĐTC ngày 19/3/2010 đã được công chứng tại Văn phòng công chứng A, tỉnh Trà Vinh, đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông S và bà H1 không thanh toán như đã thoả thuận trong hợp đồng, ông S và bà H1 cũng đã nhiều lần cam kết thanh toán nợ cho Ngân hàng nhưng cũng không thực hiện. Theo các giấy tờ thì thể hiện ông M1 có trả dùm cho ông S và bà H1 cho Ngân hàng tiền vốn 40.000.000 đồng và tiền lãi 82.945.190 đồng.
Nay ông đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – phòng giao dịch thị xã D yêu cầu ông S và bà H1 trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng G tiền vốn vay số tiền 320.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn đến ngày 18/7/2024 là 56.621.040 đồng, tiền lãi quá hạn đến ngày 18/7/2024 là 1.124.649.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là: 1.501.270.040 đồng. Rút lại yêu cầu tiền lãi phạt 233.844.859 đồng.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật ông S và bà H1 không trả, trả không đủ số nợ thì yêu cầu ông S và bà H1 giao tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản trên quyền sử dụng đất để bán đấu giá thu hồi nợ cho Ngân hàng cụ thể ba quyền sử dụng đất thửa số 687, thửa số 691, thửa số 465, cùng tờ bản đồ số 4,toạ lạc ấp K, xã T, thị xã D do hộ ông S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo đơn yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Phong S và bà Nguyễn Thị H1 và lời khai tại phiên toà của ông Trầm Phú L là người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Phong S và bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Ông S và bà H1 vì tin tưởng sự hướng dẫn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng G. Do đó vợ chồng ông S và bà H1 ký giao dịch giả tạo là Hợp đồng tín dụng số TD0293/HĐTD ngày 19/3/2010 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TC0293/HĐTC ngày 19/3/2010 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng G.
Mục đích ông S và bà H1 ký các hợp đồng giả tạo nêu trên là để bảo lãnh cho cháu của ông S là ông M1 làm cộng tác viên của Ngân hàng. Chính vì vậy mà Ngân hàng yêu cầu vợ chồng ông S và bà H1 ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TC0293/HĐTC ngày 19/3/2010 giữa bên thế chấp là ông S và bà H1 với bên nhận thế chấp là Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng G gồm tài sản là ba quyền sử dụng đất thửa số 687, thửa số 691, thửa số 465, cùng tờ bản đồ số 4, toạ lạc ấp K, xã T, thị xã D do hộ ông S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc thế chấp này cũng không được tất cả các thành viên trong hộ của ông S đồng ý; vợ chồng ông S và bà H1 cũng không có đến Phòng công chứng A tỉnh Trà Vinh để ký hợp đồng thế chấp, không thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện D mà toàn bộ hợp đồng tín dụng và thế chấp nêu trên được ký bên ngoài trụ sở theo mẫu có sẵn.
Trên thực tế vợ chồng ông S và bà H1 có ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp nhưng thực tế ông S và bà H1 không có nhận số tiền 360.000.000 đồng như trong hợp đồng tín dụng và thực tế ông S và bà H1 cũng không có nhu cầu vay vốn, mà việc ký kết hợp đồng nêu trên nhằm mục đích che giấu một giao dịch khác là bảo đảm cho vị trí công tác của ông M1. Như vậy ông S và bà H1 không có vay tiền cũng như không có nhận tiền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K –Phòng giao dịch D. Do đó ông S và bà H1 không chấp nhận theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng giao dịch D.
Nay ông S và bà H1 yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng giao dịch D, cụ thể như sau:
- - Yêu cầu Toà án giải quyết tuyên vô hiệu toàn bộ Hợp đồng tín dụng số TD0293/HĐTD ngày 19/3/2010 giữa ông S và bà H1 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng giao dịch D. Buộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng giao dịch D thanh lý toàn bộ hợp đồng tín dụng số TD0293/HĐTD ngày 19/3/2010 và tất toán các khoản nợ vay của ông S và bà H1.
- - Yêu cầu tuyên bố vô hiệu toàn bộ Hợp đồng thế chấp số TC0293/HĐTC ngày 19/3/2010 giữa ông S và bà H1 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K –Phòng giao dịch D đối với tài sản thế chấp nợ vay là quyền sử dụng đất thửa 687, diện tích 3.490m²; thửa đất 691, diện tích 663m² và thửa đất 465, diện tích 11.178m², cùng tờ bản đồ số 4, toạ lạc ấp K, xã T, thị xã D do hộ ông S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- - Buộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng giao dịch D trả lại cho hộ ông S các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 687, thửa đất 691 và thửa đất 465, cùng tờ bản đồ số 4, toạ lạc ấp K, xã T, thị xã D do hộ ông S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo đơn yêu cầu độc lập và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Minh T trình bày:
Ngày 10/3/2014 ông có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông S thửa đất 465, tờ bản đồ số 4, diện tích 11.178m², đất toạ lạc ấp K, xã T, thị xã D do hộ ông S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với giá 15.500.000 đồng/1.000m². Trong thời gian này do ông bận công việc nên tôi có uỷ quyền cho anh tôi là N1 đứng ra giao dịch, ông đã giao trước cho ông S 100.000.000 đồng, phần còn lại sẽ thánh toán sau khi làm xong thủ tục. Tuy nhiên khi lúc ông thoả thuận chuyển nhượng thì quyền sử dụng đất đang thế chấp Ngân hàng, ông S có hứa hẹn đến năm 2014 sẽ làm thủ tục chuyển nhượng nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được. Do đó, ông rút lại đơn yêu cầu độc lập để ông với ông S và bà H1 tự thoả thuận sau.
Theo bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, lời trình bày của người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tiến M1 là ông Trầm Phú L trình bày:
Năm 2010 ông M1 có nhu cầu tìm việc nên đã xin vào làm việc tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng giao dịch D với vị trí làm cộng tác viên. Tuy nhiên theo quy định của Ngân hàng thì người lao động phải bảo đảm bằng cách ký hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp tài sản cho Ngân hàng để được làm việc. Do bản thân ông M1 không có tài sản nên có nhờ ông S và bà H1 ký hợp đồng giả tạo là hợp đồng tín dụng số TD0293/HĐTD với bên cho vay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng giao dịch D, số tiền vay 360.000.000 đồng, mục đích để bảo lãnh cho ông M1 làm cộng tác viên và Ngân hàng cũng yêu cầu ông S và bà H1 ký hợp đồng thế chấp số TC0293/HĐTC, thế chấp tài sản ba giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như Ngân hàng trình bày.
Việc ông S và bà H1 có ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nhưng không có nhận số tiền 360.000.000 đồng và thực tế ông S và bà H1 cũng không có nhu cầu vay tiền, mà việc ký kết các hợp đồng là để giả tạo che giấu giao dịch khác là đảm bảo vị trí công tác của ông M1 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng giao dịch D. Bản thân ông M1 cũng không có trả cho Ngân hàng tiền vốn 40.000.000 đồng và tiền lãi 82.945.190 đồng theo như lời trình bày của đại diện Ngân hàng. Nay đại diện theo uỷ quyền của ông M1 có ý kiến là không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và thống nhất theo yêu cầu phản tố của bị đơn ông S và bà H1.
Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn B1 và bà Nguyễn Thị Thảo N trình bày: Việc cha mẹ ông bà ký hợp đồng tín dụng số TD0293/HĐTD ngày 19/3/2010 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TC0293/HĐTC ngày 19/3/2010 thì ông bà không biết và không đồng ý. Nay ông bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông bà thống nhất theo yêu cầu phản tố của bị đơn ông S và bà H1.
Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn N1 trình bày: Trước đây ông có đứng ra chuyển nhượng đất dùm ông T đối với thửa đất của ông S với giá 15.500.000 đồng/1.000m², còn việc giao tiền và nhận quyền sử dụng đất là do ông T thực hiện nên ông không có liên quan gì.
Tại bản án số 29/2024/DS-ST ngày 18/7/2024 của Toà án nhân dân thị xã D đã xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần K – Phòng giao dịch D về việc yêu cầu ông Nguyễn Phong S và bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K – Phòng giao dịch D vốn vay số tiền 320.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn đến ngày 18/7/2024 là 56.621.040 đồng, tiền lãi quá hạn đến ngày 18/7/2024 là 1.124.649.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là: 1.501.270.040 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số TD0293/HĐTD ngày 19/3/2010 tính từ ngày 19/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ nói trên và xử lý tài sản thế chấp gồm quyền sử dụng đất thửa 687, thửa 691, thửa 465, cùng tờ bản đồ số 4, toạ lạc ấp K, xã T, thị xã D do hộ ông Nguyễn Phong S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số TC0293/HĐTC ngày 19/3/2010.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Phong S và bà Nguyễn Thị H1.
- - Tuyên bố các hợp đồng tín dụng số TD0293/HĐTD ngày 19/3/2010 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TC0293/HĐTC ngày 19/3/2010 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng giao dịch D với ông Nguyễn Phong S và bà Nguyễn Thị H1 vô hiệu.
- - Buộc Ngân hàng thương mại cổ phần K – Phòng giao dịch D phải thanh lý hợp đồng vay tài sản, tất toán các khoản vay của ông Nguyễn Phong S và bà Nguyễn Thị H1 theo hợp đồng tín dụng số TD0293/HĐTD ngày 19/3/2010 và trả lại cho ông Nguyễn Phong S và bà Nguyễn Thị H1 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc các thửa 687, diện tích 3.490m²; thửa đất 691, diện tích 663m² và thửa đất 465, diện tích 11.178m², cùng tờ bản đồ số 4, toạ lạc ấp K, xã T, thị xã D do hộ ông Nguyễn Phong S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu độc lập của ông Võ Minh T về việc yêu cầu ông Nguyễn Phong S và bà Nguyễn Thị H1 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Đình chỉ xét xử đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng giao dịch D số tiền 233.844.895 đồng.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/7/2024 Ngân hàng Thương mại Cổ phần K kháng cáo. Nội dung đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo, bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh phát biểu ý kiến như sau:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, xét kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 18/7/2024 của Toà án nhân dân thị xã D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Vụ án Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã D theo quy định tại Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng Thương mại cổ phần K: Theo Hợp đồng tín dụng số TD0293/HĐTD ngày 19/3/2010 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TC0293/HĐTC ngày 19/3/2010 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng giao dịch D với ông S và bà H1 thì mục đích ông S và bà H1 vay số tiền 360.000.000 đồng, nhằm bảo lãnh cho ông M1 làm cộng tác viên tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng giao dịch D, thực chất, ông S bà H1 không có nhận tiền mà tại thời điểm giải ngân ngày 27/3/2010, số tiền 360.000.000 đồng được chuyển vào tài khoản thẻ tiết kiệm có kỳ hạn được mở cùng ngày 27/3/2010 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần K, chủ tài khoản là ông Nguyễn Tiến M1; Mục đích của việc mở sổ tiết kiệm là để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay (gốc và lãi) cho tất cả các khách hàng vay trả góp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần K do anh M1 thẩm định, bảo lãnh khi khách hàng không trả đúng và đủ theo hợp đồng vay vốn.
[3] Như vậy việc ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp là nhằm che giấu hợp đồng lao động giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần K với ông M1 nhằm ràng buộc trách nhiệm làm cộng tác viên của ông M1 là cháu của ông S, bà H1;
[4] Theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Bộ luật Lao động quy định những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động: “Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động”.
[5] Theo Điều 9 quyết định 1627/2001/QĐ-NHN2 ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N2 quy định Tổ chức tín dụng không được cho vay các nhu cầu vốn sau đây: “Để thanh toán cho các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật cấm; Để đáp ứng các nhu cầu chính của các giao dịch mà pháp luật cấm”.
[6] Trong vụ án này, Ngân hàng Thương mại cổ phần K xác lập quan hệ lao động với anh M1 rồi buộc ông S, bà H1 ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp nhưng không giao tiền cho người vay mà lập sổ tiết kiệm để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của anh M1. Hợp đồng vay vốn và thế chấp tài sản giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần K với ông S, bà H1 là giao dịch dân sự giả tạo nên vô hiệu. Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, tuyên hợp đồng tín dụng số TD0293/HĐTD ngày 19/3/2010 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TC0293/HĐTC ngày 19/3/2010 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng giao dịch D với ông S và bà H1 và Hợp đồng thế chấp vô hiệu, là có căn cứ. Kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K là không có căn cứ chấp nhận.
[7] Xét ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần K.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 18/7/2024 của Toà án nhân dân thị xã D.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần K – Phòng giao dịch D về việc yêu cầu ông Nguyễn Phong S và bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K – Phòng giao dịch D vốn vay số tiền 320.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn đến ngày 18/7/2024 là 56.621.040 đồng, tiền lãi quá hạn đến ngày 18/7/2024 là 1.124.649.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là: 1.501.270.040 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số TD0293/HĐTD ngày 19/3/2010 tính từ ngày 19/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ nói trên và xử lý tài sản thế chấp gồm quyền sử dụng đất các thửa 687, thửa 691, thửa 465, cùng tờ bản đồ số 4, toạ lạc ấp K, xã T, thị xã D do hộ ông Nguyễn Phong S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số TC0293/HĐTC ngày 19/3/2010.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Phong S và bà Nguyễn Thị H1.
- - Tuyên bố các hợp đồng tín dụng số TD0293/HĐTD ngày 19/3/2010 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TC0293/HĐTC ngày 19/3/2010 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng giao dịch D với ông Nguyễn Phong S và bà Nguyễn Thị H1 vô hiệu.
- - Buộc Ngân hàng thương mại cổ phần K – Phòng giao dịch D phải thanh lý hợp đồng vay tài sản, tất toán các khoản vay của ông Nguyễn Phong S và bà Nguyễn Thị H1 theo hợp đồng tín dụng số TD0293/HĐTD ngày 19/3/2010 và trả lại cho ông Nguyễn Phong S và bà Nguyễn Thị H1 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) gồm: quyền sử dụng đất thửa 687, tờ bản đồ số 4, đất toạ lạc ấp K, xã T, thị xã D do hộ ông Nguyễn Phong S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyền sử thửa 691, tờ bản đồ số 4, đất toạ lạc ấp K, xã T, thị xã D do hộ ông Nguyễn Phong S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất thửa 465, tờ bản đồ số 4, đất toạ lạc ấp K, xã T, thị xã D do hộ ông Nguyễn Phong S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí phúc thẩm: Buộc Ngân hàng thương mại cổ phần K phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0012770 ngày 05/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, Ngân hàng Thương mại Cổ phần K đã nộp đủ án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ái Loan |
Bản án số 209/2024/DS-PT ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 209/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng TMCP Kiên Long với ông Nguyễn Phong Sương
