Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 208/2023/HNGĐ-ST

Ngày 27-12-2023

V/v “Ly hôn, nuôi con”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.

Các Hội thẩm nhân dân.

  • 1. Ông Đặng Hữu Tấn.
  • 2. Bà Lê Thị Thanh Vân.

Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Dương Chí Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 680/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023, về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 602/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số D, tổ A, khóm A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Trịnh Mỹ T1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số C Đ, khóm C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Theo nội dung vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Hai vợ chồng ông tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân khoảng 02 năm. Nay nhận thấy tình cảm không còn xin được ly hôn với bà T1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Trịnh Gia Q, sinh ngày 27/7/2018. Cháu Q đang sống chung với bà T1. Ông đồng ý giao cháu Q cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con số tiền 8.000.000 đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 01/12/2023 cho đến khi cháu Q thành niên và có khả năng lao động.

Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Trịnh Mỹ T1 vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Tại Biên bản xác minh ngày 22/11/2023 thể hiện bà T1 xác định bà đang chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q, bà đồng ý nuôi dưỡng cháu Q, bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ, tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác nhưng vẫn vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Đề nghị áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • - Về con chung: Có 01 con chung tên tên Nguyễn Trịnh Gia Q, sinh ngày 27/7/2018. Cháu Q đang sống chung với bà T1, ông T đồng ý giao cháu Q cho bà T1 nuôi dưỡng, bà T1 đồng ý nuôi cháu Q, nên đề nghị giao cháu Q cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Q 8.000.000 đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng nuôi con từ ngày 01/12/2023 cho đến khi cháu Q thành niên và có khả năng lao động. Mặc dù, tại Biên bản xác minh bà T1 có ý kiến không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên, việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con quy định tại Điều 110 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do đó, việc ông T tự nguyện cấp dưỡng là phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.
  • - Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Biên bản xác minh, bản sao giấy khai sinh của Q, bản sao giấy chứng nhận đăng ký kết hôn......

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tranh chấp của các đương sự là về ly hôn, nuôi con, bị đơn có địa chỉ thường trú tại địa bàn thành phố L, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông T, bà T1 chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C vào ngày 04/9/2015, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ông T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà T1 do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, vợ chồng đã ly thân khoảng 02 năm.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án mở các phiên hòa giải để hòa giải, động viên đoàn tụ nhưng bà T1 vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến, bỏ mặc cho ông T tự giải quyết, không quan tâm đến việc hàn gắn quan hệ vợ chồng. Xét, mối quan hệ vợ chồng là mối quan hệ gắn bó lâu dài và bền vững, vợ chồng phải thương yêu chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, cùng chung tay nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, sống chung với nhau, nhưng ông bà đã ly thân, ông bà đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông T yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.

[2.2] Về con chung: 01 con chung tên tên Nguyễn Trịnh Gia Q, sinh ngày 27/7/2018. Cháu Q đang sống chung với bà T1, ông T đồng ý giao cháu Q cho bà T1 nuôi dưỡng, bà T1 đồng ý nuôi cháu Q.

Xét, hiện tại cháu Q đang do bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng, ông T đồng ý giao cháu Q cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng, để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của cháu, tạo điều kiện cho cháu được ổn định tinh thần, sinh sống và học tập, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Q cho bà T1 được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Bà Trịnh Mỹ T1 cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Nguyễn Hoàng T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc nuôi con là không cố định.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Q 8.000.000 đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 01/12/2023 cho đến khi cháu Q thành niên và có khả năng lao động. Mặc dù, tại Biên bản xác minh bà T1 có ý kiến không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên, việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con quy định tại Điều 110 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do đó, việc ông T tự nguyện cấp dưỡng là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.

[2.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí:

Ông Nguyễn Hoàng T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002630 ngày 02 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

Ông Nguyễn Hoàng T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí về cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Hoàng T. Ông Nguyễn Hoàng T được ly hôn bà Trịnh Mỹ T1.
  2. Về con chung:
    1. Ông Nguyễn Hoàng T và bà Trịnh Mỹ T1 có 01 con chung Nguyễn Trịnh Gia Q, sinh ngày 27/7/2018, cháu Q, đang sinh sống với bà T1.
    2. Giao cháu Nguyễn Trịnh Gia Q, sinh ngày 27/7/2018 cho bà Trịnh Mỹ T1 được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Bà Trịnh Mỹ T1 cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Nguyễn Hoàng T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc nuôi con là không cố định.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Hoàng T cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Trịnh Gia Q, sinh ngày 27/7/2018, mỗi tháng 8.000.000 đồng, thời điểm cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 01/12/2023 cho đến khi cháu Q thành niên và có khả năng lao động.
  4. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí:
    • - Ông Nguyễn Hoàng T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002630 ngày 02 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
    • - Ông Nguyễn Hoàng T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí về cấp dưỡng nuôi con.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TPLX;
  • - Chi cục THADS TPLX;
  • - UBND xã An Thạnh Trung (GCN số 151, ngày 04/9/2015);
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Thi

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Đặng Hữu Tấn Lê Thị Thanh Vân

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 208/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 208/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà T được ly hôn ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger