|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 208/2024/HS-ST Ngày: 26 - 4 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thái Hòa
- Ông Trần Công Danh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm – Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu thành phần - Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 205/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Huy N, sinh năm 1997 tại tỉnh Đồng Nai. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 06/12 - Nghề nghiệp: Không. Nơi đăng ký thường trú: 104B khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nơi ở hiện nay: Tổ B, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Họ tên cha: Lê Quang H, sinh năm 1972 (còn sống). Họ tên mẹ: Voòng V, sinh năm 1975 (còn sống). Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 15/12/2023, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố B. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Những người tham gia tố tụng khác (các chiến sĩ thuộc Nhà tạm giữ - Công an thành phố B tại điểm cầu thành phần):
- + Đồng chí Trần Phú N1;
- + Đồng chí Cao Văn Nhật B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung sự việc của vụ án:
Lê Huy N là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.
Khoảng 18 giờ ngày 14/12/2023, N đi đến khu vực C thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai gặp đối tượng tên L (chưa rõ lai lịch) mua 01 (một) gói ma túy tổng hợp (dạng đá) với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) rồi mang về cất giấu trên gác phòng trọ số 1 (do N thuê ở tại tổ B, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, mục đích để sử dụng dần.
Đến khoảng 09 giờ 15 phút ngày 15/12/2023, khi N đang để 01 (một) gói ma túy trên dưới nệm trải trên gác phòng trọ số 1 địa chỉ nêu trên để chuẩn bị sử dụng thì bị Công an phường Q kiểm tra phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Huy N khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục số: 01, 02);
Lời khai bị cáo (Bút lục số: 01, từ 34 đến 45);
Lời khai người làm chứng, người chứng kiến (Bút lục số: 01, 56).
2. Về giám định:
Tại Kết luận giám định số 2774/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:
“Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định và ma túy, có khối lượng: 0,2197 gam loại: Methamphetamine.” (Bút lục số 06).
3. Về vật chứng của vụ án:
- + 01 (một) gói nilon bên trong có chứa chất màu trắng, đã được niêm phong, có chữ ký của Lê Huy N và hình dấu mộc tròn của Công an phường Q;
- + 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh (nỏ) của N dùng để sử dụng ma túy;
- + 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy D12 màu xanh đen, số Imei 793550659 là của N không sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho N.
(Bút lục số 02 đến 04; từ 49 đến 51).
4. Truy tố:
Bản cáo trạng số: 207/CT-VKSBH-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Lê Huy N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Huy N mức án từ 14 tháng - 20 tháng tù, xử lý vật chứng và buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.
5. Ý kiến của bị cáo:
- - Tại phiên tòa bị cáo trình bày: bị cáo thống nhất với hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến gì đối với kết luận giám định.
- - Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Quyền của bị cáo được đảm bảo; bị cáo thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
[2] Về hành vi bị truy tố và tội danh:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong tài liệu đồ vật, Bản kết luận giám định, lời khai của người làm chứng. Đã có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 09 giờ 15 phút ngày 15/12/2023, tại phòng trọ số A thuộc tổ B, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lê Huy N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2197 gam ma túy, loại Methamphetamine (theo Kết luận giám định số 2774/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ) thì bị Công an phường Q phát hiện, bắt quả tang.
Như vậy, bị cáo Lê Huy N đã có hành vi tàng trữ Methamphetamine, đây là chất ma túy nằm trong danh mục các chất cấm theo quy định của Chính phủ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố và viện dẫn.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, trị an và an ninh tại địa phương, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước Việt Nam về đấu tranh phòng ngừa và loại bỏ ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- + Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
- + Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về các vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên L (chưa rõ lai lịch) có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng quy định.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ còn lại sau giám định;
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh (nỏ) của N dùng vào việc phạm tội.
(Các vật chứng nêu trên được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và bị cáo tại phiên tòa:
- - Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt là phù hợp nên được chấp nhận.
- - Đối với phần trình bày của bị cáo sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Lê Huy N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Lê Huy N 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt quả tang 15/12/2023.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ còn lại sau giám định;
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh (nỏ) của N dùng vào việc phạm tội.
(Các vật chứng nêu trên được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Huy N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí.
- Quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phú |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán |
Bản án số 208/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 208/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Huy Nh phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
