|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 208/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/4/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
Thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quang Dũng
- Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Mai
- 2/ Bà Hoàng Thị An
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Minh Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 26/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 152/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “ Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 20 24 và quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22/4/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Cao Thị Đ, sinh năm 1985
Nơi cư trú: Đội 4 Thôn B, K, Đ, Hà Nội
Bị đơn: Anh Vũ Kế Đ1, sinh năm 1981
Nơi cư trú: Đội 4 Thôn B, K, Đ, Hà Nội
Chị Đ có mặt, anh Đ1 vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn Chị Cao Thị Đ trình bày:
Về tình cảm: Tôi kết hôn với anh Vũ Kế Đ1 tự nguyện, không bị ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, B, Hà Nội ngày 12/11/2006. Sau khi kết hôn chúng tôi sống chung tại Đội 4 thôn B, K, Đ, Hà Nội. Mâu thuẫn giữa tôi và anh Đ1 xảy ra từ đầu năm 2022, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về giáo dục con, hay xảy ra mâu thuẫn dấn đến cãi nhau, có xảy ra đánh nhau. Cả 2 không có trách nhiệm gì với nhau. Tuy sống cùng nhà nhưng chúng
tôi đã ly thân. Tôi xác định tình cảm không còn đề nghị tòa án cho tôi được ly hôn với anh Đ1.
Về con chung: Tôi và anh Đ1 sinh có 03 con chung là Vũ Khánh L, sinh ngày 22/02/2007; Vũ Trí C, sinh ngày 02/01/2012; Vũ Gia B, sinh ngày 25/07/2015. Hiện nay sức khoẻ của các cháu tốt. Ly hôn tôi yêu cầu nuôi cả 3 cháu không yêu cầu anh Đ1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chúng tôi không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về án phí: tôi chịu cả.
Bị đơn anh Vũ Kế Đ1: Cán bộ tòa án cùng đại diện chính quyền địa phương đã đến gặp anh Đ1 nhưng anh Đ1 từ chối không cung cấp lời khai vì vậy cán bộ toà án không ghi được lời khai của anh Đ1.
Tại phiên tòa: Anh Đ1 vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu quan điểm:
-Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật
-Về nội dung đề nghị hội đồng xét xử:
- Về tình cảm: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đ
- Về con: Chị Đ, anh Đ1 có 03 con chung là Vũ Khánh L, sinh ngày 22/02/2007; Vũ Trí C, sinh ngày 02/01/2012; Vũ Gia B, sinh ngày 25/07/2015. Ly hôn đề nghị giao 3 con chung cho chị Đ.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết .
- Về án phí: Chị Đ chịu án phí không có giá ngạch
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa . Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Chị Cao Thị Đ và anh Vũ Kế Đ1 có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, B, Hà Nội. Tòa án xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Chị Đ xin ly hôn anh Đ1, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ pháp luật “Ly hôn”. Chị Đ, anh Đ1 đều khai báo tạm trú tại huyện Đ, Hà Nội. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 39 bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc tòa án nhân dân huyện Đông Anh.
[2] Về tố tụng: Căn cứ Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp do các đương sự không thỏa thuận được để giải quyết vụ án.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ1, Chị Đ kết hôn tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn 2 anh chị cùng thuê trọ sống tại Thôn B, K, Đ, Hà Nội. Quá trình chung sống giữa 2 anh chị xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong giáo dục con, mâu thuẫn căng thẳng cả 2 đã xảy ra đánh nhau. Cả 2 anh chị đã ly thân từ năm 2022.
Qua xác minh, chính quyền địa phương cung cấp ý kiến: Chị Đ, anh Đ1 có xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không rõ.
Xét mâu thuẫn của Chị Đ và anh Đ1 trầm trọng đã lâu, quan hệ hôn nhân không đạt được, cả 2 đã ly thân nên việc chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Đ là có căn cứ.
[3.2] Về con chung: Chị Đ và anh Đ1 có 03 con chung là Vũ Khánh L, sinh ngày 22/02/2007; Vũ Trí C, sinh ngày 02/01/2012; Vũ Gia B, sinh ngày 25/07/2015. Các cháu đều có nguyện vọng ở với mẹ.. Chị Đ hiện đang làm khu công nghiệp thu nhập ổn định. Chị Đ yêu cầu nuôi cả 3 con không yêu cầu toà án giải quyết cấp dưỡng nuôi con. Anh Đ1 không có thu nhập ổn định việc giao con cho anh Đ1 không đảm bảo việc phát triển toàn diện cho các cháu vì vậy cần giao con chung cho chị Đ nuôi dưỡng.
[3.3]Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Tòa án không xem xét.
[4] Về án phí: Chị Đ phải chịu án phí không có giá ngạch.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố dụng dân sự 2015.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của Chị Cao Thị Đ với anh Vũ Kế Đ1. Chị Cao Thị Đ được ly hôn với anh Vũ Kế Đ1.
- Về con chung: Chị Cao Thị Đ và anh Vũ Kế Đ1 có 03 con chung là Vũ Khánh L, sinh ngày 22/02/2007; Vũ Trí C, sinh ngày 02/01/2012; Vũ Gia B, sinh ngày 25/07/2015. Ly hôn chị Cao Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung thành niên hoặc khi có quyết định khác của Toà án. Chị Đ không yêu cầu toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Anh Đ1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án không giải quyết về tài sản chung, nợ chung trong vụ án .
- Về án phí: Chị Cao Thị Đ phải chịu án phí 300.000 đồng tiền án phí được trừ vào 300.000 đồng tiền án phí Chị Cao Thị Đ đã nộp tại chi cục thi hành án Dân sự huyện Đông Anh theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án ký hiệu BLTU/23 số 0017202 ngày 01/4/2024. Chị Đ đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày xét xử. Anh Đ1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Quang Dũng |
Bản án số 208/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 208/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Thị Đ kết hôn với Vũ Kế Đ1 ngày 12/11/2006. Do mâu thuẫn nên Đ xin ly hôn Đ1
