Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2024/HS-ST

Ngày: 25/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Hoàng

2. Bà Trần Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Dương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sáng - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại các điểm cầu: Điểm cầu trung tâm hội trường xét xử trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; điểm cầu thành phần phòng xử tại trại tạm giam Công an tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 200/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thị L (tên gọi khác không); sinh năm: 1985, tại thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: khối V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Xuân C, sinh năm 1964; con bà: Nguyễn Thị H – sinh năm 1966; Chồng: không, con: có 02 con lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019; tiền án:không; tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 24/3/2010 tại bản án số 70/2010/HSST Tòa án nhân dân thành phố Vinh xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 30/4/2011, nộp tiền án phí ngày 21/7/20210; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N từ ngày 07/5/2024 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 06/5/2024, Phạm Thị L có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào tài khoản Facebook “Phạm L” gọi điện qua ứng dụng M gọi cho một người phụ nữ có tài khoản tài khoản Facebook “T” (không rõ lai lịch địa chỉ) hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy đá. T đồng ý bán và nói L bỏ tiền vào bao thuốc lá rồi vứt ở khu vực đường tàu thuộc phường Đ, thành phố V rồi T sẽ chỉ chỗ cất ma túy cho L đến lấy. Thống nhất xong, L đi đến khu vực đường tàu bỏ số tiền 2.000.000 đồng vào vỏ bao thuốc lá Thăng L1 làm theo T Hướng dẫn, sau đó T nói L đi đến khu vực trường mầm non phường Đ theo chỉ dẫn của T, L tìm thấy dưới gốc cây xoài cách cổng trường mầm non phường Đ 50 m 01 gói màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Lấy được ma túy L mang về phòng trọ số 03, số nhà C, đường N, phường H, thành phố V lấy một ít sử dụng số còn lại cất dấu trong bàn trang điểm để sử dụng dần.

Đến khoảng 10 giờ 45 phút ngày 07/5/2024, tổ công tác đội cảnh sát điều tra Công an thành phố V tiến hành kiểm tra hành chính phòng trọ của L, L đã tự nguyện giao nộp số ma túy đang cất dấu. Người cùng tang vật được đưa về trụ sở Công an thành phố V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realmi màu xanh bên trong có sim số 0982.297.092; 01 bao ni lông màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 07/5/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V và Kết luận giám định số: 502/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 12/5/2024 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận:

Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Phạm Thị L là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 2.662 gam (hai phẩy, sáu trăm sáu mươi hai gam).

Tại Bản cáo trạng số: 210/CTP V ngày 04/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố Phạm Thị L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự..

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Thị L từ 33 đến 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp và quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét hành vi phạm tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 10 giờ 40 phút, ngày 07/5/2024, tại phòng trọ số 03 nhà số C, đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Phạm Thị L có hành vi tàng trữ trái phép 2,662 gam ma túy (Methamphetamine) để sử dụng thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của Phạm Thị L đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt được quy định định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[2.2]. Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tội phạm thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi đó gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn tại địa phương là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy mang lại cho bản thân, xã hội và đã bị Tòa án xét xử về tội ma túy nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có công ăn việc làm thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[2.4]. Về vật chứng: Đối với 2,662 gam ma túy (M) thu giữ của Phạm Thị L đã lấy 0,600 gam gửi giám định, phần còn lại và vỏ giấy niêm phòng được bỏ vào một phong bì thư bưu điện được dán kín và niêm phong lại theo đúng quy định của pháp luật là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di dộng Realmi bên trong có số sim 0982.297.092 là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[2.5]. Đối với người tên T bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có cơ sở để xử lý.

[2.6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Thị L 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư bưu điện niêm phong dán kín thu giữ của Phạm Thị L; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Realmi bên trong có số sim 0982.297.092. Vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK 2024/255 ngày 12 tháng 7 năm 2024.

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp và quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Thị L phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam công an Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Viện kiểm sát ND thành phố Vinh;
  • - Chi cục THADS thành phố Vinh;
  • - Công an thành phố Vinh;
  • - UBND P.Đông Vĩnh, TP Vinh;
  • - Bị cáo; Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Thúy

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 208/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 208/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị L bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger