Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 208/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 21/3/2025

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Bùi Thị Hòa Bình
  2. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Mỹ Linh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên

Trong các ngày từ ngày 18 tháng 3 năm 2025 đến ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 939/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Dương Hồng S, sinh năm 1982

Nơi đăng ký thường trú: Số A B, Phường A (Phường B cũ), quận B,Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên hệ: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Ngô Quốc H, sinh năm 1979

Nơi cư trú: 1 B, Phường A (Phường B cũ), quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/4/2024 và tại bản tự khai nguyên đơn là bà Dương Hồng S trình bày: Bà và ông Ngô Quốc H tự nguyện kết hôn, đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 105/2011 ngày 21/7/2011. Vợ chồng bà sống không hạnh là do ông H không chịu làm ăn, thường xuyên cãi vã, đánh lộn nhau, xúc phạm danh dự của bà. Bà nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà và ông H có 03 con chung là Ngô Như N, sinh ngày 06/6/2012, Ngô Dương K sinh ngày 08/7/2014 và Ngô Gia T sinh 14/8/2017. Bà S xin được trực tiếp nuôi 03 con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Bà S xin tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các biên bản của Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Vào tháng 11/2023 bà đã nộp đơn ly hôn, sau khi được Tòa án hòa giải bà đã rút đơn để cho ông H cơ hội sửa chữa và gia đình đoàn tụ. Tuy nhiên, ông H vẫn không thay đổi, ông bà thường xuyên cãi vã, đánh nhau nhiều lần nên bà đã về nhà cha mẹ bà ở Cà Mau để sinh sống, bà và ông H đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân đã không thể cứu vãn, để ổn định cuộc sống, bà tiếp tục xin ly hôn với ông H. Hiện nay cả ba con đều do ông H nuôi dưỡng và các con đều có nguyện vọng được ở với ông H nên bà đồng ý giao ba con cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, bà đồng ý cấp dưỡng nuôi mỗi con 1.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng từ tháng 4 năm 2025. Về tài sản chung: Bà S xin tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông ngô Quốc H trình bày: Ông H xác nhận cuộc sống hôn nhân giữa ông và bà S có nhiều mâu thuẫn, ông bà đánh nhau nhiều lần là do bà S làm nhiều việc không đúng đối với ông. Tuy nhiên, ông vẫn đồng ý tha thứ cho bà vì ông và bà S có 3 con còn nhỏ, ông không muốn ảnh hưởng đến tâm sinh lý của con do đó ông không đồng ý ly hôn, ông mong bà S quay về để cùng nuôi dạy con cái. Nếu trường hợp bà S nhất quyết ly hôn thì ông yêu cầu được nuôi 03 con và yêu cầu bà S cấp dưỡng mỗi con 1.000.000 đồng/tháng như bà S trình bày.

Về tài sản chung: Tại đơn phản tố ngày 16/9/2024, ông có yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung của ông và bà S, tuy nhiên do không có tiền nộp tạm ứng án phí nên ông xin rút yêu cầu chia tài sản chung, ông xin tự thỏa thuận giải quyết tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện VKSND quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Do cuộc sống hôn nhân của các đương sự đã có mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Các con chung có nguyện vọng được ở với nguyên đơn. Căn cứ các điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xin ly hôn với bị đơn. Về con chung: Giao 03 con là Ngô Như Ngọc Nữ sinh ngày 06/6/2012, Ngô Dương K sinh ngày 08/7/2014 và Ngô Gia T sinh ngày 14/8/2017 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, bà S cấp dưỡng nuôi mỗi con là 1.000.000 đồng/ tháng. Về tài sản chung: Bà S và ông H xin tự giải quyết và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn và án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về việc ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. [2] Về các yêu cầu của đương sự:
    1. [2.1] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

      Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 105/2011 ngày 21/7/2011 do Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau cấp cho bà Dương Hồng S và ông Ngô Quốc H thể hiện quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp. Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với lý do vợ chồng mâu thuẫn, cãi vã, đánh nhau thường xuyên, đời sống chung không hạnh phúc, đôi bên đã sống ly thân. Bị đơn không đồng ý ly hôn vì vẫn còn thương vợ, đồng ý tha thứ mọi lỗi lầm của vợ và 3 con còn nhỏ, không muốn ảnh hưởng đến tâm sinh lý của 03 con và mong muốn bà S quay về cùng nuôi dạy con cái. Căn cứ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 457/2024/QÐST-HNGĐ ngày 25/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh thì từ tháng 11/2023, giữa nguyên đơn và bị đơn đã nảy sinh mâu thuẫn nên nguyên đơn nộp đơn xin ly hôn. Cho đến thời điểm hiện nay, mâu thuẫn giữa các bên chưa được giải quyết, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và thực tế đôi bên không cùng chung sống với nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các đương sự để tiến hành hòa giải, Tòa án đã động viên nguyên đơn rút đơn khởi kiện để vợ chồng đoàn tụ, tạo điều kiện cho bị đơn có thêm cơ hội hàn gắn tính cảm, giải quyết mâu thuẫn nhưng nguyên đơn cương quyết yêu cầu được ly hôn. Đồng thời, tại phiên tòa hôm nay bị đơn là ông Ngô Quốc H cũng thừa nhận cuộc sống hôn nhân của ông và bà S có nhiều mâu thuẫn, ông bà nhiều lần đánh nhau và ông bà đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Căn cứ Điều 19 của Luật hôn nhân và Gia đình thì “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” thì mục đích hôn nhân mới đạt được, mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và trên thực tế, đời sống vợ chồng của các đương sự không còn nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

    2. [2.2] Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 03 con chung tên là Ngô Như N sinh ngày 06/6/2012, Ngô Dương K sinh ngày 08/7/2014 và Ngô Gia T sinh ngày14/8/2017, hiện nay ba trẻ đều do bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời ba trẻ có nguyện vọng được ở với cha. Tại phiên tòa, nguyên đơn đồng ý giao ba trẻ cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng nên việc giao ba trẻ cho bị đơn là ông Ngô Quốc H trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở chấp nhận.
    3. [2.3] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, bị đơn yêu cầu nguyên đơn cấp dưỡng nuôi con và các đương sự thống nhất nguyên đơn cấp dưỡng nuôi mỗi con là 1.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng từ tháng 4/2025 nên yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con của bị đơn là có cơ sở chấp nhận.
    4. [2.4] Về tài sản: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn thống nhất xin tự giải quyết và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét.
    5. [2.5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng và án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.
  3. [3] Đối với phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã nhận định đúng về thủ tục tố tụng, phân tích đúng nội dung của vụ án. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh về việc giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật và có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn - bà Dương Hồng S:
    • - Về quan hệ vợ chồng: Bà Dương Hồng S được ly hôn với ông Ngô Quốc H.
    • - Về con chung: Giao cho ông Ngô Quốc H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ Ngô Như N sinh ngày 06/6/2012, trẻ Ngô Dương K sinh ngày 08/7/2014 và trẻ Ngô Gia T sinh ngày 14/8/2017.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp lạm dụng việc thực hiện quyền này để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 86 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chưa thành niên của người không trực tiếp nuôi con. Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

    • -Về cấp dưỡng: Bà Dương Hồng S cấp dưỡng nuôi mỗi con là 1.000.000 (một triệu) đồng/1 tháng (3.000.000 đồng/3 con/1 tháng), cấp dưỡng từ tháng 4/2025. Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

    Kể từ ngày ông Ngô Quốc H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Dương Hồng S không thi hành khoản tiền cấp dưỡng nuôi con nói trên thì bà S còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự tương ứng với khoản tiền và thời gian chậm thi hành án.

    • - Về tài sản: Các đương sự tự thỏa thuận giải quyết và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Bà Dương Hồng S phải chịu án phí đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) và án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0023703 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà S còn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q.Bình Thạnh;
  • - Chi cục THADS Q.Bình Thạnh;
  • - UBND Thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, tỉnh Ca Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 208/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 208/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger