trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2024/DS-ST.

Ngày: 12-12-2024.

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Thanh Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Ngọc Hạnh

Ông Lương Thanh Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thuỷ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 143/2024/TLST-DS ngày 19/3/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 153/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B); địa chỉ trụ sở: T, số A, đường T, Phường L, Quận H, Thành phố Hà Nội; địa chỉ liên hệ: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – chi nhánh M, lô D, đường N, Khu công nghiệp M, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
  • Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Quốc P, sinh năm 1993; chức vụ nhân viên Ngân hàng; địa chỉ liên hệ: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – chi nhánh M, lô D, đường N, Khu công nghiệp M, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo đơn xin giải quyết vắng mặt.
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1989; địa chỉ cũ: Số A, tổ A, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ mới: Số C, đường N, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 04/04/2017, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ-chi nhánh M(Sau đây gọi tắt là Ngân hàng B – chi nhánh M") và bà Nguyễn Thanh T ký Hợp đồng tín dụng số 155/2017/9604566/HĐTD, trong đó số tiền vay của bà Nguyễn Thanh T là 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng), mục đích vay: Tiêu dùng phục vụ đời sống, thời gian vay 36 tháng. Theo nội dung Hợp đồng tín dụng đã ký kết, Ngân hàng B– chi nhánh M đã giải ngân cho bà T với tổng số tiền là 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng). Tính đến hết ngày 07/11/2023, bà T đã thanh toán cho Ngân hàng B – chi nhánh M số tiền 70.364.648 đồng (bảy mươi triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn sáu trăm bốn mươi tám đồng), trong đó nợ gốc là 57.000.000 đồng (năm mươi bảy triệu), nợ lãi là 13.364.648 đồng (mười ba triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn sáu trăm bốn mươi tám đồng). Trong quá trình sử dụng vốn bà T đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ tiền lãi và tiền gốc vay của mình đối với Ngân hàng B– chi nhánh M theo đúng thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Ngân hàng B– chi nhánh M đã chuyển khoản vay sang nợ quá hạn theo đúng quy định. Tạm tính đến hết ngày 07/11/2023, bà T còn nợ Ngân hàng B – chi nhánh M theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết với tổng số tiền là: Nợ gốc: 23.000.000 đồng; nợ lãi: 19.280.406 đồng. Tổng cộng: 42.280.406 đồng. Việc bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay đối với Ngân hàng B– chi nhánh M đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (đại diện là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ - chi nhánh M). Đồng thời, hiện bà T không có thiện chí trả nợ. Vì vậy, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết đối với các vấn đề sau: Yêu cầu Tòa án buộc bà T phải thanh toán toàn bộ khoản nợ gốc và lãi vay phát sinh cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ đến thời điểm Tòa án ra Bản án, cụ thể như sau: Nợ gốc: 23.000.000 đồng; nợ lãi (tạm tính đến hết ngày 07/11/2023): 19.280.406 đồng. Tổng cộng số tiền gốc và lãi vay phát sinh tạm tính đến hết ngày 07/11/2023 là: 42.280.406. Bà Nguyễn Thanh T còn phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 155/2017/9604566/HĐTD ngày 04/04/2017 tính từ ngày 08/11/2023 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp bà T không trả được nợ, Ngân hàng B có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi và xử lý toàn bộ tài sản của Bên thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.

* Bị đơn trình bày: Bà Nguyễn Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại Toà án thông qua thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.

- Tại phiên tòa: Đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không có lý do.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trình bày quan điểm:

- Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định, những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

- Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 155/2017/9604566/HĐTD ngày 04/04/2017. Do đó, Tòa án xác định đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Bị đơn là bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1989; địa chỉ cũ: Số A, tổ A, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ mới: Số C, đường N, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tại Điều 10 của Hợp đồng tín dụng số 155/2017/9604566/HĐTD ngày 04/04/2017 thì các bên lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Nhận thấy các bên giao kết hợp đồng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – chi nhánh M, lô D, đường N, Khu công nghiệp M, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt bị đơn:

Theo hợp đồng tín dụng hai bên ký kết cũng như tài liệu kèm theo hợp đồng tín dụng thì bị đơn bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1989; địa chỉ thường trú: Số A, tổ A, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Theo kết quả nguyên đơn cung cấp và kết quả xác minh của Tòa án thì địa chỉ: Số A, tổ A, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương đã đổi thành: Số C, đường N, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên theo kết quả xác minh của Tòa án ngày 06/11/2024 thì bà Nguyễn Thanh T đã chuyển đi khỏi địa phương khoảng 04-05 năm, đi đâu làm gì, không rõ và không trình báo địa phương. Nhận thấy, việc tống đạt qua đường bưu điện cũng như niêm yết công khai không đảm bảo cho bà Nguyễn Thanh T nhận được thông tin về việc giải quyết vụ án nên Tòa án đã tiến hành thủ tục triệu tập hợp lệ bà T tham gia tố tụng tại Toà án thông qua thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, bà T vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thanh T.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (sau đây gọi tắt là Ngân hàng B) khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bị đơn bà Nguyễn Thanh T phải có trách nhiệm thanh toán tổng số tiền tạm tính đến ngày 12/12/2024 là 47.353.260 đồng, trong đó: Nợ gốc: 23.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 16.235.507 đồng; nợ lãi quá hạn: 8.117.753 đồng. Ngoài ra, nguyên đơn còn yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thanh T còn phải trả cho Ngân hàng B tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 155/2017/9604566/HĐTD ngày 04/04/2017 tính từ ngày 13/12/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp bà T không trả được nợ, Ngân hàng B có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi và xử lý toàn bộ tài sản của Bên thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng B.

Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Đối với yêu cầu thanh toán nợ gốc:

Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 155/2017/9604566/HĐTD ngày 04/04/2017, Giấy đề nghị vay vốn ngày 30/3/2017, Bảng kê rút vốn ngày 04/4/2017 có chữ ký xác nhận của bên cho vay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ– chi nhánh M và bên vay là bà Nguyễn Thanh T và lời khai thống nhất của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đủ cơ sở để xác định: Bà Nguyễn Thanh T có vay của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ– chi nhánh M số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng); mục đích vay: Tiêu dùng phục vụ đời sống, thời gian vay 36 tháng. Ngân hàng B – chi nhánh M đã giải ngân cho bà T với tổng số tiền là 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng).

Tuy nhiên trong quá trình sử dụng vốn bà T đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ tiền lãi và tiền gốc vay của mình đối với Ngân hàng B theo đúng thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 155/2017/9604566/HĐTD ngày 04/04/2017. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng số 155/2017/9604566/HĐTD ngày 04/04/2017, bà Nguyễn Thanh T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng B. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu bà Nguyễn Thanh T trả nợ nhưng vẫn không thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng B, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 12/12/2024, bà Nguyễn Thanh T còn nợ Ngân hàng B số tiền sau: 47.353.260 đồng, trong đó: Nợ gốc: 23.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 16.235.507 đồng; nợ lãi quá hạn: 8.117.753 đồng.

Xét, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, mặc dù đã được thông báo nhắc nợ nhiều lần nhưng phía bị đơn vẫn không có thiện chí thanh toán đầy đủ nợ cho Ngân hàng B là đã vi phạm các điều khoản thỏa thuận đã ký kết trong Hợp đồng tín dụng số 155/2017/9604566/HĐTD ngày 04/04/2017. Do đó, việc Ngân hàng B khởi kiện yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ trả số tiền gốc: 23.000.000 đồng là có cơ sở để chấp nhận phù hợp quy định tại Điều 465 và khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2.2] Đối với yêu cầu trả tiền lãi (tạm tính đến ngày 12/12/2024): Tiền nợ lãi tạm tính đến hết ngày 12/12/2024 là: 24.353.260 đồng (hai mươi bốn triệu ba trăm năm mươi ba nghìn hai trăm sáu mươi đồng), trong đó: Nợ lãi trong hạn: 16.235.507 đồng; nợ lãi quá hạn: 8.117.753 đồng và buộc bị đơn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 155/2017/9604566/HĐTD ngày 04/04/2017 cho đến ngày thực tế bị đơn phải trả hết nợ gốc và lãi vay cho Ngân hàng B.

Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Căn cứ Điều 4 Hợp đồng cho vay quy định: “... Lãi suất cho vay trong hạn: 12%/năm cố định trong suốt thời gian vay kể từ ngày giải ngân ... Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn (lãi suất vay đã được điều chỉnh nếu có) ...”. Trong quá trình thanh toán nợ cho Ngân hàng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản nợ của bị đơn sang nợ quá hạn kể từ tháng 6/2022 là phù hợp. Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng B về việc buộc bị đơn phải trả tiền tạm tính đến ngày 12/12/2024 là: Nợ gốc: 23.000.000 đồng và nợ lãi: 24.353.260 đồng (hai mươi bốn triệu ba trăm năm mươi ba nghìn hai trăm sáu mươi đồng), trong đó: Nợ lãi trong hạn: 16.235.507 đồng; nợ lãi quá hạn: 8.117.753 đồng và buộc bị đơn phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi, lãi quá hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 155/2017/9604566/HĐTD ngày 04/04/2017 kể từ ngày 13/12/2024 cho đến khi bị đơn trả hết nợ cho Ngân hàng B.

Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng B về việc buộc bị đơn phải trả số tiền tạm tính đến ngày 12/12/2024 là 47.353.260 đồng, trong đó: Nợ gốc là 23.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn là 16.235.507; tiền lãi quá hạn là 8.117.753 đồng và buộc bị đơn phải tiếp tục thanh toán phần lãi, lãi quá hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 155/2017/9604566/HĐTD ngày 04/04/2017 cho đến khi bị đơn trả hết nợ cho Ngân hàng.

[3] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận.

[4] Về chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí này. Bị đơn phải chịu số tiền 3.942.437 đồng (ba triệu chín trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm ba mươi bảy đồng) chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để hoàn trả cho nguyên đơn.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng B được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 180; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 267; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 299; Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ đối với bị đơn bà Nguyễn Thanh T về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

    Buộc bị đơn bà Nguyễn Thanh T phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền tính đến ngày 12/12/2024 là 47.353.260 đồng (bốn mươi bảy triệu ba trăm năm mươi ba nghìn hai trăm sáu mươi đồng), trong đó: Nợ gốc: 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu đồng); nợ lãi trong hạn: 16.235.507 đồng (mười sáu triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm lẻ bảy đồng); nợ lãi quá hạn: 8.117.753 đồng (tám triệu một trăm mười bảy nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng).

    Tiền lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 13/12/2024 cho đến khi bị đơn bà Nguyễn Thanh T trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 155/2017/9604566/HĐTD ngày 04/04/2017.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bị đơn phải chịu số tiền 2.367.663 đồng (hai triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn sáu trăm sáu mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 1.057.000 đồng (một triệu không trăm năm mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0000661 ngày 22/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

  3. Về chi phí tố tụng khác: Bị đơn phải chịu số tiền 3.942.437 đồng (ba triệu chín trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm ba mươi bảy đồng) chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để hoàn trả cho nguyên đơn.
  4. Về quyền kháng cáo:

    Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Văn Thị Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 208/2024/DS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 208/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐTD
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger