Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 208/2024/HSST

Ngày: 28/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Hải
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Mai Khanh
  • 2. Bà Hoàng Thị Hường
  • - Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hương Ly – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Soa - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 182/2024/HS-ST ngày 01 tháng 11 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Đức P, T gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 7 năm 1990, tại: Huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: quản lý điều hành cửa hàng X thuộc Công ty TNHH T4; Nơi đăng ký HKTT: Xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Số CCCD: [...], Cục Cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C cấp ngày 11 tháng 11 năm 2021; Họ tên cha: Nguyễn Đức N, sinh năm 1960; Họ tên mẹ: Vũ Thị T1, sinh năm 1962; Vợ: Hoàng Thị Quỳnh N1, sinh năm 1993; Con: 04 người, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án/tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Đức N; sinh ngày 01/01/1960, trú tại xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 23/3/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra (CSKT) Công an tỉnh N khám xét Công ty TNHH T5 (Mã số thuế:2900531582; địa chỉ: K, phường N, TX C, tỉnh Nghệ An) để phục vụ công tác điều tra về hành vi trốn thuế (đã khởi tố vụ án theo Quyết định khởi tố số 62 ngày 22/5/2023). Quá trình xác minh hành vi “trốn thuế” của công ty TNHH T5, cơ quan Cảnh sát điều tra (CSKT) Công an tỉnh N phát hiện Công ty TNHH T4 (Mã số thuế: 2900401142; địa chỉ đăng ký hoạt động tại xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) có hành vi mua bán xăng dầu không có hóa đơn của Công ty TNHH T5 (Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 11/QĐ-CSKT ngày 22/11/2023 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N).

Công ty TNHH T4 được đăng ký, thành lập lần đầu vào ngày 20/7/2000 (đăng ký thay đổi lần thứ 4 ngày 02/3/2017), mã số doanh nghiệp 2900401142, do ông Nguyễn Đức N (sinh ngày 01/01/1960, trú tại xóm N - nay là xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) làm giám đốc. Vốn điều lệ: 7.000.000.000 đồng. Ngành nghề kinh doanh chính là buôn bán nhiên liệu rắn, lỏng, khí và các sản phẩm liên quan. Công ty TNHH T4 có một cửa hàng xăng dầu Diễn N2 có địa chỉ tại xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (sát QL 1A). Thương nhân cung cấp xăng, dầu là Công ty X1. Từ cuối năm 2019 đầu năm 2020 đến nay, do sức khỏe ông Nguyễn Đức N không tốt nên ông N đã giao lại cho con trai là Nguyễn Đức P (sinh ngày 10/7/1990, trú tại xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) quản lý, điều hành toàn bộ cửa hàng xăng dầu.

Ngày 01/12/2021, Công ty TNHH T4 ký hợp đồng vận chuyển xăng dầu số 10/2021/HĐVC-TX với Công ty TNHH T5. Quá trình được ông Nguyễn Đức N giao chỉ đạo, điều hành hoạt động công ty, Nguyễn Đức P đã nhiều lần chỉ đạo lái xe là Nguyễn Công P1 (sinh năm 1970, trú tại xóm I, D, D, Nghệ An), Hoàng Trọng H (sinh năm 1990, trú tại thôn P, xã M, D, Nghệ An) và Nguyễn Xuân T2 (sinh năm 1988, trú tại xóm P, xã D, D, Nghệ An) điều khiển xe ô tô mang BKS: 37C - 335.52 và 37C – 208.70 vào kho xăng dầu của Công ty TNHH T5 để chở xăng dầu cho Công ty TNHH T5 và các đại lý xăng dầu của Công ty TNHH T5.

Lợi dụng việc chở thuê xăng dầu cho Công ty TNHH T5 và các đại lý, Nguyễn Đức P đã nhiều lần liên hệ với anh Hoàng Cảnh T3 (Sinh năm 1981, trú tại phường N, Thị xã C, Nghệ An - Giám đốc Công ty T5) để mua hàng hóa xăng dầu không có hóa đơn GTGT. Sau khi thống nhất được giá cả và số lượng hàng đã đặt, Nguyễn Đức P chỉ đạo lái xe của công ty vào kho xăng dầu của Công ty T5 để vận chuyển về kinh doanh nhưng không kê khai thuế. Quá trình mua bán xăng dầu không có hóa đơn GTGT của Công ty do anh Nguyễn Đức P thực hiện, ông Nguyễn Đức N và những người trong gia đình không biết. Nhân viên công ty chỉ làm theo sự chỉ đạo của P. Lợi nhuận từ việc mua, bán xăng, dầu không có hóa đơn GTGT Nguyễn Đức P sử dụng vào việc tiêu xài cá nhân và chăm lo cho gia đình. Đồng thời cũng lấy lợi nhuận bán được từ chuyến trước để đi mua xăng dầu chuyến sau chứ không đưa vào hạch toán, lợi nhuận của công ty.

1. Về hành vi mua bán dầu không có hóa đơn của Công ty TNHH T5 để bán cho khách hàng hưởng lợi nhuận, không kê khai thuế:

1.1 Hành vi mua xăng dầu không có hóa đơn

Lợi dụng việc chở thuê xăng dầu cho Công ty TNHH T5 và các đại lý, Nguyễn Đức P đã nhiều lần liên hệ với anh Hoàng Cảnh T3 (Sinh năm 1981, trú tại phường N, Thị xã C, Nghệ An - Giám đốc Công ty T5) để mua hàng hóa xăng dầu không có hóa đơn GTGT. Sau khi thống nhất được giá cả và số lượng hàng đã đặt, Nguyễn Đức P chỉ đạo lái xe của công ty vào kho xăng dầu của Công ty T5 để vận chuyển về kinh doanh nhưng không kê khai thuế. Cụ thể, tháng 01/2022 đến tháng 3/2022, Nguyễn Đức P đã mua xăng dầu không có hóa đơn chứng từ từ Hoàng Cảnh T3 và chỉ đạo lái xe của Công ty TNHH T4. 972 lít xăng và 90.401 lít dầu.

Toàn bộ số tiền mua xăng dầu trên đều được thanh toán bằng tiền mặt nên hiện tại cả 2 phía mua và bán không nhớ cụ thể số tiền phải thanh toán là bao nhiêu. Căn cứ vào bảng giá do Công ty TNHH T5 cung cấp về giá bán ra cho khách hàng mua xăng dầu của Công ty TNHH T5 thì số lượng và số tiền mà Công ty TNHH T4 mua của Công ty TNHH T5 không có hóa đơn GTGT là 3.351.007.370 đồng tiền xăng và 1.637.814.210 đồng tiền dầu (tổng cộng là 4.988.821.580 đồng). Cụ thể như sau:

TT
(1)
Ngày tháng
(2)
Diễn giải
(3)
Hàng hóa
(4)
Số lượng (lít)
(5)
Đơn giá VNĐ
(6)
Thành tiền VNĐ
(7=5x6)
Xăng Dầu
1 16/01/2022 Mua hàng Dầu Diesel 13.941 15,990 222,916,590
2 18/01/2022 Mua hàng Xăng A95 18.029 21,740 391,950,460
3 23/01/2022 Mua hàng Xăng A95 17.229 22,040 379,727,160
4 23/01/2022 Mua hàng Dầu Diesel 3.883 16,170 62,788,110
5 23/01/2022 Mua hàng Xăng A95 15.176 22,040 334,479,040
6 07/02/2022 Mua hàng Xăng A95 5.080 22,040 111,963,200
7 13/02/2022 Mua hàng Xăng A95 6.956 22,920 159,431,520
8 22/02/2022 Mua hàng Xăng A95 4.883 23,900 116,703,700
9 24/02/2022 Mua hàng Xăng A95 11.921 23,900 284,911,900
10 25/02/2022 Mua hàng Xăng A95 8.956 23,900 214,048,400
11 03/03/2022 Mua hàng Xăng A95 25.859 24,360 629,925,240
12 03/03/2022 Mua hàng Dầu Diesel 20.859 18,630 388,603,170
13 05/3/2022 Mua hàng Dầu Diesel 25.859 18,630 481,753,170
14 05/3/2022 Mua hàng Dầu Diesel 25.859 18,630 481,753,170
15 15/03/2022 Mua hàng Xăng A95 10.956 27,810 304,686,360
16 22/03/2022 Mua hàng Xăng A95 15.927 26,570 423,180,390
Cộng 140.792 90.401 4,988,821,580

2.2. Hành vi bán xăng dầu không có hóa đơn ra thị trường

Toàn bộ số xăng dầu mà Nguyễn Đức P mua của Công ty TNHH T5 không có hóa đơn GTGT được bán hết sau khoảng 02 đến 03 ngày kể từ khi nhập hàng. Số lượng xăng dầu trên đã được được bán hết và được bán lẻ cho khách hàng (theo hình thức bán trực tiếp, không qua cột bơm) để hưởng lợi nhuận. Việc bán xăng dầu đối với số xăng dầu không có hóa đơn GTGT Nguyễn Đức P không ghi sổ sách, không kê khai thuế. Về giá bán lẻ thì Nguyễn Đức P bán với giá cao hơn giá mua của Công ty TNHH T5. Cụ thể đối với mặt hàng xăng Công ty TNHH T4 bán bán cao hơn giá mua 800 đồng/1 lít; đối với mặt hàng dầu Công ty TNHH T4 bán cao hơn giá mua 700 đồng/1 lít. Theo đó, tổng số tiền mà Công ty T4 bán ra đối với số xăng dầu không có hóa đơn là 5.164.879.880 đồng, hưởng chênh lệch 176.058.300 đồng, cụ thể như sau:

TT
(1)
Ngày tháng
(2)
Số lượng (lít)
(3)
Ngày tháng năm bán hàng
(4)
Đơn giá VNĐ
(5)
Thành tiền VNĐ
(6=3x5)
Xăng Dầu Từ ngày Đến ngày
1 16/01/2022 13.941 16/01/2022 18/01/2022 16,690 232,675,290
2 18/01/2022 18.029 18/01/2022 21/01/2022 22,540 406,373,660
3 23/01/2022 17.229 23/01/2022 25/01/2022 22,580 393,510,360
4 23/01/2022 3.883 23/01/2022 25/01/2022 16,870 65,506,210
5 23/01/2022 15.176 23/01/2022 25/01/2022 22,840 346,619,840
6 07/02/2022 5.080 07/02/2022 10/02/2022 22,840 116.027.200
7 13/02/2022 6.956 13/02/2022 16/02/2022 23,720 164.996.320
8 22/02/2022 4.883 22/02/2022 24/02/2022 24,700 120.610.100
9 24/02/2022 11.921 24/02/2022 26/02/2022 24,700 294.448.700
10 25/02/2022 8.956 25/02/2022 28/02/2022 24,700 221.213.200
11 03/03/2022 25.859 03/03/2022 05/03/2022 25,160 650.612.440
12 03/03/2022 20.859 03/03/2022 05/03/2022 19,330 403.204.470
13 05/3/2022 25.859 05/3/2022 08/3/2022 19,330 499.854.470
14 05/3/2022 25.859 05/3/2022 08/3/2022 19,330 499.854.470
15 15/03/2022 10.956 15/03/2022 18/03/2022 28,610 313.451.160
16 22/03/2022 15.927 22/03/2022 25/03/2022 27,370 435.921.990
Tổng 140.972 90.401 5.164.879.880

Ngày 16/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra Quyết định trưng cầu giám định số 402/QĐ-CSKT trưng cầu Cục Thuế tỉnh N để giám định tư pháp về Thuế đối với Công ty TNHH T4. Ngày 29/9/2023, Cục Thuế tỉnh N ban hành Kết luận giám định tư pháp về thuế đối với Công ty TNHH T4 theo Quyết định trưng cầu giám định kết luận:

(1) Thuế giá trị gia tăng

Căn cứ xác định các loại thuế và số thuế phát sinh

  • - Căn cứ các quy định về căn cứ tính thuế, giá tính thuế, thời điểm và thuế suất GTGT bán ra của mặt hàng xăng dầu tại Điều 6; điểm a, Khoản 1, Điều 7 và Khoản 3, Điều 8 Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12, khoản 1 Điều 5 Nghị định 209/2013
  • - Số thuế GTGT hàng hóa, dịch vụ bán ra phát sinh căn cứ quy định Điều 12, Điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC, Nghị định 209/2013/NĐ-CP thì số tiền thuế GTGT phát sinh đối với số lượng xăng dầu Công ty TNHH T4 đã bán không lập hóa đơn, không ghi chép trong sổ sách kế toán như sau: thuế giá trị gia tăng hàng hóa dịch vụ bán ra là: 500.583.034 đồng (5.506.413.370/1,1 x 10%).
  • - Về thời điểm khai thuế: Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng (Mẫu số 01/GTGT) đến Quý I đã xác định đến thời điểm kê khai thuế GTGT của Công ty TNHH T4 thì số thuế GTGT còn được khấu trừ là 165.161.255 đồng thì số thuế GTGT xăng dầu bán ra sau khi thực hiện bù trừ số thuế GTGT còn được khấu trừ Quý I tại thời điểm CQCSĐT Công an tỉnh N niêm phong hồ sơ chuyển cơ quan Thuế thì phát sinh số thuế GTGT phát sinh phải nộp là 335.421.779 đồng.

(2) Thuế thu nhập doanh nghiệp

  • - Căn cứ Quyết định trưng cầu giám định số 402/QĐ-CSKT ngày 16/8/2022; hồ sơ của cơ quan Cảnh sát điều tra (CSKT) Công an tỉnh N cung cấp thì việc giao dịch mua bán xăng dầu không có hóa đơn trên Công ty TNHH T5 có lãi: 17.008.756 đồng (5.506.413.370 đồng – 5.489.404.614 đồng).
  • - Căn cứ các quy định trên, Công Ty TNHH T4 đã bán số lượng xăng, dầu không lập hóa đơn, không ghi chép trong sổ sách kế toán phát sinh số tiền thuế TNDN là 3.401.751 đồng (17.008.756 x 20%).

(3) Tổng hợp số tiền thuế GTGT, thuế TNDN phát sinh của Công ty TNHH T4 là 338.823.530 đồng.

Nội dung yêu cầu giám định thứ hai: Hành vi trốn thuế của Công ty TNHH T4 thuộc vào trường hợp nào được quy định tại Điều 143 Luật quản lý thuế.

Theo nội dung tại hồ sơ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N cung cấp đã kết luận Công ty TNHH T4 đã vi phạm: “Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ” có dấu hiệu của tội “Trốn thuế” được quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 200 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), quy định các hành vi được xem là trốn thuế như sau:

“Điều 200. Tội trốn thuế

b) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;

c) Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán”

Tại khoản 2, khoản 3 Điều 143 Luật Quản lý thuế năm 2019 quy định hành vi trốn thuế như sau:

- “Điều 143. Hành vi trốn thuế:....

2. Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp.

3. Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán.”

Như vậy, dựa vào hành vi vi phạm do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã kết luận nêu trên thì hành vi vi phạm này phù hợp với hành vi trốn thuế quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 143 Luật Quản lý thuế năm 2019”.

  • - Ngày 21/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N có văn bản số 4765/CV-CQĐT-CSKT về việc đề nghị giải thích kết luận giám định. Ngày 27/8/2024, Giám định viên Cục Thuế tỉnh N có văn bản sửa đổi các nội dung kết luận như sau:
  • - Bỏ nội dung “giả định” nguồn gốc xăng dầu Công ty TNHH T4 mua của Công ty TNHH T5 không có hóa đơn chứng từ là hợp pháp, được lưu thông buôn bán trên thị trường tại Kết luận giám định tư pháp về thuế đối với Công ty TNHH T4 ngày 29/9/2023 của Cục Thuế tỉnh N.
  • - Bỏ phần “Phạm vi thực hiện giám định của Cơ quan Thuế” tại mục a điểm 7 phần I của Kết luận giám định tư pháp về thuế đối với Công ty TNHH T4 ngày 29/9/2023 của Cục Thuế tỉnh N.
  • - Với tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N cung cấp về hành vi vi phạm của Công ty TNHH T4 tại Quyết định trưng cầu giám định số 402/QĐ-CSKT là phù hợp với hành vi “trốn thuế”, quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 143 Luật Quản lý thuế năm 2019. Số tiền thuế phải nộp do vi phạm của Công ty TNHH T4 được giữ nguyên như trong Kết luận giám định tư pháp về thuế đối với Công ty TNHH T4 ngày 29/9/2023

Như vậy, tổng số tiền thuế GTGT, thuế TNDN phát sinh từ hành vi trốn thuế của Nguyễn Đức P từ tháng 01/2022 đến tháng 03/2022 là 338.823.530 đồng (Ba trăm ba mươi tám triệu tám trăm hai mươi ba nghìn năm trăm ba mươi đồng (=335.421.779 đồng+ 3.401.751 đồng ) (BL 59-68).

Nguyễn Đức P là người trực tiếp quản lý điều hành mọi hoạt động của công ty T4 trong khoảng thời gian từ 2020 cho đến nay. Hành vi mua xăng dầu của Công ty T5 không có hóa đơn rồi bán lại cho khách hàng để hưởng lợi nhưng không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp. Do Nguyễn Đức P thực hiện, người đại diện theo pháp luật của công ty T4 là ông Nguyễn Đức N không biết, không được thông báo và hưởng lợi gì. Như vậy, Nguyễn Đức P phải chịu trách nhiệm đối với hành vi trốn thuế của Công ty TNHH T4 theo quy định tại Điều 200 Bộ luật hình sự.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng

  • - 32 (ba mươi hai) phiếu xuất kho của Công ty TNHH T5 xuất cho khách hàng Công ty TNHH T4, cụ thể là: Các phiếu xuất kho số 0000112 ngày 04/01/2022, 0000153 ngày 05/01/2022, 0000125 ngày 08/01/2022, 0000133 ngày 08/01/2022, 0000141 ngày 09/01/2022, 0000002 ngày 11/01/2022, 0000018 ngày 13/01/2022, 0000191 ngày 14/01/2022, 0000168 ngày 0000196 ngày 14/01/2022, 0000154 ngày 15/01/2022, 16/01/2022, 0000177 ngày 16/01/2022, 0000025 ngày 18/01/2022, 0000038 ngày 23/01/2022, 0000104 ngày 23/01/2022, 0000154 ngày 23/01/2022, 0000131 ngày 26/01/2022, 0000006 ngày 28/01/2022, 0000009 ngày 30/01/2022, 0000106 ngày 07/02/2022, 0000107 ngày 07/02/2022, 0000117 ngày 13/02/2022, 0000120 ngày 15/02/2022, 0000134 ngày 22/02/2022, 0000140 ngày 24/02/2022, 0000146 ngày 25/02/2022, 0000054 ngày 03/03/2022, 0000094 ngày 03/03/2022, 0000009 ngày 05/03/2022, 0000023 ngày 05/03/2022, 0000070 ngày 15/03/2022, 0000083 ngày 22/03/2022 (BL 447-478).
  • - 02 (hai) biên bản xác nhận giữa Công ty TNHH T5 và Công ty TNHH T4 các ngày 31/01/2022 và 28/02/2022 (BL 389-390).
  • - 55 (Năm mươi lăm) hóa đơn GTGT của Công ty TNHH T5 xuất cho các khách hàng là đại lý của Công ty TNHH T5
  • - Các tài liệu liên quan đến hoạt động kinh doanh của Công ty T4:
  • Tờ khai thuế GTT của Công ty TNHH T4

Tại Bản Cáo trạng số 220/CT-VKSNA-P3 ngày 29/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố Nguyễn Đức P về tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như tại Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức P phạt tiền từ 250.000.0000 đồng đến 300.000.000 đồng về tội “Trốn thuế”.
  • - Về hình phạt bổ sung: đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự 2015: Các tài liệu có liên quan là các chứng từ kế toán, sổ kế toán của Công ty TNHH T4 đã được thu giữ, lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
  • - Về biện pháp tư pháp: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền trốn thuế 338.823.530 đồng và số tiền bán dầu hưởng lợi 176.058.300 đồng mà bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả.
  • - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Và tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Kết luận giám định về thuế ngày 09/11/2023 của Cục T; Sao kê tài khoản ngân hàng... vật chứng đã được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Từ ngày tháng 01/2022 đến tháng 03/2022, Công ty TNHH T4 do Nguyễn Đức P được ủy quyền điều hành đã mua xăng dầu của Công ty TNHH T5 có địa chỉ tại khối B, phường N, TX C, tỉnh Nghệ An (bên bán không lập hoá đơn GTGT) với số lượng 140. 972 lít xăng và 90.401 lít dầu, tổng số tiền phải thanh toán là 4.988.821.580 đồng (Bốn tỷ chín trăm tám mươi tám triệu tám trăm hai mươi mốt nghìn năm trăm tám mưới đồng), Nguyễn Đức P đã thanh toán đủ cho Công ty T5. Số lượng dầu nói trên đã được Nguyễn Đức P bán hết theo giá thị trường tại thời điểm đối với mặt hàng xăng bán cao hơn giá mua 800 đồng/1 lít; đối với mặt hàng dầu bán cao hơn giá mua 700 đồng/1 lít. Theo đó, tổng số tiền mà Công ty T4 bán ra đối với số xăng dầu không có hóa đơn là 5.164.879.880 đồng, hưởng chênh lệch 176.058.300 đồng, khi bán không lập hoá đơn bán hàng, không ghi chép trong sổ sách kế toán, không kê khai và nộp bất cứ loại thuế nào. Tổng số tiền thuế GTGT và thuế TNDN phát sinh từ hành vi trốn thuế của Nguyễn Đức P là 338.823.530 đồng (Ba trăm ba mươi tám triệu tám trăm hai mươi ba nghìn năm trăm ba mươi đồng).

Như vậy, hành vi mua mua xăng dầu của Công ty TNHH T5 rồi bán lại cho khách hàng không có hóa đơn, không ghi chép trong sổ kế toán, không kê khai thuế; vận chuyển xăng dầu không ghi chép trong sổ kế toán, không lập hóa đơn GTGT mà Nguyễn Đức P thực hiện đã vi phạm quy định tại khoản 2, 3 Điều 143 Luật Quản lý thuế. Khi thực hiện hành vi bị cáo là người được Giám đốc Công ty T4 ủy quyền quản lý, phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm trách nhiệm theo quy định tại Điều 12, 13 Luật Doanh nghiệp nên hành vi mà Nguyễn Đức P thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế” theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết. Tổng số tiền thuế GTGT, thuế TNDN phát sinh từ hành vi trốn thuế của Nguyễn Đức P trong năm năm 2022 tính đến thời điểm hành vi bị phát hiện là 338.823.530 đồng đồng nên Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng mức.

[2.2]. Đây là vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, trật tự quản lý việc thu thuế, nộp ngân sách cho Nhà nước dẫn đến thất thu ngân sách, gây thiệt hại tiền thuế cho Nhà nước, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Do đó, cần phải xét xử nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, Hội đồng xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện đã tự nguyện nộp lại số tiền trốn thuế và số tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi lượng hình đối với bị cáo. Và do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ lại có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội trong lĩnh vực quản lý kinh tế nên cần áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự để xử phạt tiền đối với bị cáo từ từ 250.000.0000 đồng đến 300.000.000 đồng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đủ để giáo dục, cải tạo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[2.3] Đối với Công ty TNHH T4 là pháp nhân thương mại, được thành lập theo Luật doanh nghiệp, do Nguyễn Đức N là Giám đốc và người đại diện trước pháp luật. Căn cứ theo quy định tại Điều 75 Bộ luật Hình sự thì Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm khi đủ 4 điều kiện. Xét thấy, điểm b khoản 1 Điều 75 BLHS quy định “hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại”, tuy nhiên số tiền trốn thuế Nguyễn Đức P không đưa vào sổ kế toán, không sử dụng cho hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH T4, quá trình mua bán xăng dầu không có hóa đơn GTGT của Nguyễn Đức P ông Nguyễn Đức N không biết, không tham gia. Đồng thời, điểm c khoản 1 Điều này quy định “Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại”. Do đó, không xem xét xử lý pháp nhân thương mại phạm tội trốn thuế.

  • - Đối với ông Phạm Đức N3 là người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH T4 nhưng không biết hành vi mua bán xăng dầu không có hóa đơn của Nguyễn Đức P, không tham gia vào hoạt động kinh doanh của Nguyễn Đức P, không biết hành vi trốn thuế của Nguyễn Đức P và không được chia lợi nhuận từ hoạt động mua bán xăng dầu không có hóa đơn GTGT của Nguyễn Đức P nên không đồng phạm với Nguyễn Đức P về hành vi trốn thuế.
  • - Đối với chị Nguyễn Thị Quỳnh N4: Trong khoảng thời gian Nguyễn Đức P quản lý điều hành công ty, có được Nguyễn Đức P nhờ gọi các lái xe của Công ty T4 đi chở hàng cho khách hàng hoặc đi lấy hàng cho công ty nhưng không biết, không tham gia vào quá trình mua bán xăng dầu không có hóa đơn GTGT. Do chị N4 không biết việc Nguyễn Đức P mua xăng dầu không có hoá đơn về để kinh doanh trốn thuế nên chị Hoàng Thị Quỳnh N1 không đồng phạm với Nguyễn Đức P về hành vi trốn thuế.
  • - Đối với Nguyễn Công P1, Hoàng Trọng H, Nguyễn Xuân T2: Là những người được Công ty TNHH T4 thuê lái xe bồn chở xăng dầu. Nguyễn Công P1, Hoàng Trọng H, Nguyễn Xuân T2 chỉ làm nhiệm vụ theo sự chỉ đạo của Nguyễn Đức P chứ không biết, không tham gia đến hoạt động kinh doanh, buôn bán của Công ty TNHH T4 và bản thân Nguyễn Đức P nói riêng. Do đó, hành vi của Nguyễn Công P1, Hoàng Trọng H, Nguyễn Xuân T2 không đồng phạm với Nguyễn Đức P về hành vi trốn thuế.
  • - Đối với Hoàng Cảnh T3 và các cá nhân liên quan thuộc Công ty TNHH T5: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã điều tra, làm rõ và đề nghị xử lý trong vụ án hình sự số 62/QĐ-CSKT ngày 22/5/2023 và được Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử theo bản án số 34/2024/HSST ngày 05/02/2024.
  • - Đối với các khách hàng mua dầu của Công ty T4 (bên bán không lập hoá đơn GTGT) do không xác định được cụ thể khách hàng nào, địa chỉ ở đâu nên không có căn cứ xử lý.

[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo: phạt tiền 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng về tội “Trốn thuế”.
  2. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 514.882.000 đồng (Năm trăm mười bốn triệu, tám trăm tám mươi hai ngàn đồng) mà bị cáo đã nộp vào Tài khoản tạm giữ Sở T6 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Nghệ An theo Giấy nộp tiền số 2208240006000086 ngày 22/8/2024 của Ngân hàng thương mại cổ phần N5 - Chi nhánh Nghệ An
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Đức P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 208/2024/HSST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về trốn thuế

  • Số bản án: 208/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trốn thuế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội trốn thuế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger