Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2024/HNGĐ-ST

Ngày 25-11-2024

V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Xuân Quang;

Bà Bùi Thị Mỹ Hoà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 25/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 172/2024/TLST-HNGĐ ngày 14/10/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19/11/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1996;

Địa chỉ: Khu phố T, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quang G, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Xóm B, thôn L, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, vắng mặt lần 02 không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08/10/2024 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Quang G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, sau đó đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 11/08/2020, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng bà sinh sống cùng gia đình chồng ở thôn L, xã Â, huyện H. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, có với nhau 01 con chung tên Nguyễn Huyền D, sinh ngày 06/9/2022, hiện đang được bà nuôi dưỡng ổn định. Ông G làm nghề điện lực ở tỉnh Khánh Hoà, không hay về nhà cũng không hay gọi về cho bà. Hiện bà đang làm nghề buôn bán, thu nhập bình quân một tháng 6.000.000 đồng. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2022, khi bà đang mang bầu cháu D. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm sống, tính cách không hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi, ông G nợ nần nhiều nơi, bà có khuyên can nhưng ông G không nghe. Bà và ông G ly thân từ tháng 10 năm 2022, từ đó tới nay vợ chồng ít khi liên lạc với nhau, ông G cũng không về nhà, nên tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, không thể hàn gắn được. Nay cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Quang G.

Về con chung: Bà yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Huyền D, sinh ngày 06/9/2022; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông Nguyễn Quang G không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/10/2024, bà Nguyễn Thị M trình bày: Bà là mẹ ruột của Nguyễn Quang G. Năm 2020, G có kết hôn với Lê Thị T, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng G sống cùng gia đình bà ở thôn L, xã Â, huyện H. Khi sống chung thì bà không thấy vợ chồng G có mâu thuẫn gì. Tuy nhiên, tới năm 2022, G bỏ nhà đi đâu đến nay không về nhà, sau đó T cũng về nhà ngoại sinh sống, cả hai đứa chỉ gọi điện thoại về cho bà. Nay T yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với G thì bà tôn trọng, không có ý kiến gì.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Quang G: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, theo quy định tại Điều 177; 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng ông G không đến Tòa án trình bày ý kiến và hòa giải, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành các thủ tục tố tụng và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về hôn nhân: Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Lê Thị T và ông Nguyễn Quang G không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Lê Thị T được ly hôn ông Nguyễn Quang G.

Về con chung: Đề nghị giao con chung tên Nguyễn Huyền D, sinh ngày 06/9/2022 cho bà Lê Thị T tiếp tục nuôi dưỡng; ông Nguyễn Quang G không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Thị T có đơn yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Quang G. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Nguyễn Quang G có đăng ký thường trú tại xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.

[2] Xét đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt của bà Lê Thị T; ông Nguyễn Quang G được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Nguyễn Quang G kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 11/8/2020 nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Theo bà T trình bày: Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh từ năm 2022, khi bà đang mang bầu cháu D. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm sống, tính cách không hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi, ông G nợ nần nhiều nơi, bà có khuyên can nhưng ông G không nghe. Bà và ông G ly thân từ tháng 10 năm 2022, từ đó tới nay vợ chồng ít khi liên lạc với nhau, ông G cũng không về nhà, nên tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, không thể hàn gắn được.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Quang G: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành các thủ tục thông báo thụ lý và thông báo các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải hợp lệ, nhưng tất cả các buổi làm việc tại Tòa án ông G đều vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, ông G cũng không có mặt, điều này chứng tỏ ông cũng không muốn níu kéo tình cảm vợ chồng, không muốn níu kéo cuộc hôn nhân của ông bà.

Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Lê Thị T và ông Nguyễn Quang G mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc và thực tế họ không còn sống chung với nhau, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung: Bà Lê Thị T và ông Nguyễn Quang G có 01 con chung tên Nguyễn Huyền D, sinh ngày 06/9/2022, hiện đang được bà T nuôi dưỡng ổn định. Nên giao cháu D cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

    Bà Lê Thị T được ly hôn ông Nguyễn Quang G.

  2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Huyền D, sinh ngày 06/9/2022 cho bà Lê Thị T tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Quang G được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con, các bên: Người thân thích của con; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
  5. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm, bà Lê Thị T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0004776, ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
  6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Hoài Ân + Tỉnh;
  • - Các bên đương sự;
  • - CC THADS huyện Hoài Ân;
  • - UBND xã Ân Mỹ;
  • - Lưu HSVA, VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Vân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 208/2024/HNGĐ-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 208/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thảo, sinh năm 1996; Địa chỉ: Khu phố Thiết Đính Nam, phường Bồng Sơn, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. - Bị đơn: Ông Nguyễn Quang Giới, sinh năm 1992; Địa chỉ: Xóm 2, thôn Long Quang, xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger