TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HÀ NỘI. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 208/2024/HS-ST
Ngày: 20 – 11 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hà Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Lương Văn Thoại
Bà: Nguyễn Thị Nga
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn L V T Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện K.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Văn Thế - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân thành phố Hà Nội; địa chỉ: Ô đất 1-VP, Khu chức năng đô thị Nam đường Vành đai 3, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội; địa chỉ: đường Phúc Diễn, phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 211/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 207/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: L V T, sinh năm 1982 tại Sơn La; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Bản A, xã B, huyện C, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn) 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông L V M, sinh năm 1932 (đã chết) và bà L T P, sinh năm 1931; Vợ: L T T, sinh năm 1988; con: có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không có;
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 10/9/2024, đến ngày 19/9/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K, thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh C X B, sinh năm 1978;
Nơi cư trú: Thôn D, xã E, huyện K, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 10/9/2024, L V T điều khiển xe máy BKS: 34B2-68911 đi từ thôn D, xã E, huyện K, Hà Nội đến khu vực thành phố Từ Sơn, Bắc Ninh để tìm mua ma túy, nhằm mục đích để bán kiếm lời. Khi đến khu vực thành phố Từ Sơn, L V T mua của một người đàn ông không quen biết 02 gói ma túy túy Heroine (được bọc ngoài C X B giấy màu trắng) với giá 200.000 đồng (100.000 đồng/gói). Sau khi mua được ma túy, L V T cất 02 gói ma túy Heroine vào túi quần phía sau bên trái đang mặc, sau đó điều khiển xe máy đi về. Trên đường về, thì anh C X B sử dụng số thuê bao 0562117877 gọi đến số thuê bao của L V T để hỏi mua ma túy. L V T đồng ý bán 01 gói ma túy vừa mua được cho C X B với giá 200.000 đồng và hẹn địa điểm giao dịch tại khu vực gần trạm bơm nước thôn D, xã E. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, L V T điều khiển xe máy đến chỗ hẹn thì thấy C X B đang đứng đợi. Sau đó, L V T dừng xe và đi bộ lại gần C X B, khi đến gần thì C X B đưa cho L V T số tiền 200.000 đồng (bao gồm 02 tờ tiền mỗi tờ mệnh giá 100.000 đồng). Sau khi nhận tiền, L V T định lấy 01 gói ma túy Heroine ra đưa cho C X B thì lực lượng Công an đến kiểm tra. Do hoảng sợ nên L V T đã vứt 200.000 đồng xuống dưới đường rồi bỏ chạy thì bị lực lượng công an bắt giữ. Quá trình kiểm tra, phát hiện tại túi quần phía sau bên trái của L V T có 02 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng, L V T khai nhận là ma túy Heroine do L V T mua nhằm mục đích bán kiếm lời.
Vật chứng thu giữ của L V T: 02 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng; 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A16 màu bạc trắng, IMEI 1: 860817050738356, IMEI 2: 860817050738349, bên trong lắp sim số: 0342684176, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 xe mô tô nhãn hiệu REVO SUZUKI màu đen, mang BKS: 34B2-689.11, có số máy: E455-119063, số khung: RLSBE4DJ070119063, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong (trong cốp và trên xe không có đồ vật, tài sản gì).
Vật chứng thu giữ của C X B: : 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel, màu xanh bên trong lắp sim số 0562117877 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Tại bản Kết luận giám định số 6630/KL-KTHS ngày 19/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,051 gam; Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,056 gam.
Tại bản Cáo trạng số 213/CT-VKSGL, ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo L V T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: bị cáo L V T đã khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh C X B vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K trình bày luận tội, giữ nguyên nội dung Bản cáo trạng đã truy tố bị cáo, trên cơ sở xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo L V T phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo L V T từ 24 tháng đến 28 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 10/9/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo, sau khi đã trích mẫu để làm giám định; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A16 màu bạc trắng, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu REVO SUZUKI màu đen, mang BKS: 34B2-689.11 và số tiền 200.000 đồng (thu giữ của L V T), 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel, màu xanh thu giữ của C X B do liên quan đến hành vi phạm tội.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan L V T hành tố tụng, người L V T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan L V T hành tố tụng, người L V T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, biên bản kiểm tra điện thoại, phù hợp với vật chứng thu giữ được, phù hợp với Kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 10/9/2024, tại khu vực thôn D, xã E, huyện K, thành phố Hà Nội, L V T đang có hành vi cất giữ trái phép 02 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,107 gam với mục đích bán kiếm lời, khi L V T đang bán cho anh C X B 01 gói ma túy Heroine nhưng chưa kịp giao ma túy cho C X B thì bị cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo L V T đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo L V T là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3]. Về hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước được Bộ luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng xét, bị cáo không có tình tiết tăng nặng và được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự là căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết: nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự để cân nhắc khi lượng hình.
[4]. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện K đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo là đối tượng nghiện, không có thu nhập và nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Đối với đối tượng bán ma túy cho L V T ngày 10/9/2024 ở khu vực Từ Sơn, Bắc Ninh do không xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[7]. Đối với C X B là người mua ma túy của bị cáo nhưng C X B chưa mua được ma túy, chưa cầm ma túy nên hành vi của C X B chưa cấu thành tội phạm. Kết quả xét nghiệm C X B âm tính với ma túy nên cơ quan công an không xử lý đối với C X B là đúng quy định của pháp luật.
[8]. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói bên trong chứa 0,042 gam ma túy loại Heroine (do đã trích 0,009 gam để làm mẫu giám định) và 01 gói bên trong chứa 0,043 gam ma túy loại Heroine (do đã trích 0,013 gam để làm mẫu giám định) do đây là vật Nhà nước cấm lưu hành;
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu REVO SUZUKI màu đen, mang BKS: 34B2-689.11, có số máy: E455-119063, số khung: RLSBE4DJ070119063; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A16 màu bạc trắng, bên trong lắp sim số: 0342684176, 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel, màu xanh bên trong lắp sim số 0562117877 thu giữ của C X B và số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo do liên quan đến hành vi phạm tội.
[9]. Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: Bị cáo L V T có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ các Điều: 331, 332, 333, 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ: khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: bị cáo L V T phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt: L V T 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 10/9/2024.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong có 02 gói giấy màu trắng chứa tổng trọng lượng 0,085 gam ma túy loại Heroine;
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16 màu bạc trắng, bên trong lắp sim cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động bàn phím bấm hiệu Mastel, màu xanh, bên trong lắp sim số 0562117877, mãy cũ đã qua sử dụng (cả hai máy điện thoại di động đều không kiểm tra, đối chiếu được số imei, không rõ chất lượng máy); 01 xe máy nhãn hiệu SUZUKI màu đen, đã cũ, có số máy: E455-119063, số khung: RLSBE4DJ070119063, BKS: 34B2-689.11 và số tiền 200.000 đồng.
Toàn bộ số vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 01/11/2024 và Biên lai thu tiền ngày 06 tháng 11năm 2024, ký hiệu BLTT/23 số: 0004061.
Về án phí: Bị cáo L V T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo L V T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hà Thu |
Bản án số 208/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 208/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lvt
