Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27 - 9 - 2024

V/v ly hôn và tranh chấp về con

chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Mến.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Hoàng Đức Cảnh.

Ông Doãn Văn Sáng

Thư ký phiên toà: Ông Phùng Thế Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T Nguyên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 257/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 166/2024/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 2, xã G, huyện T, thành phố H; nơi ở hiện nay: Thôn 3, xã L, huyện T, thành phố H. Vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Quang Đ; nơi cư trú: Thôn 2, xã G, huyện T, thành phố H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Vũ Thị Thủy trình bày:

Chị và anh Vũ Quang Đ kết hôn trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 18 tháng 3 năm 2019. Sau khi cưới, chị Thủy về chung sống cùng anh Đ tại thôn 2, xã G, huyện T, H. Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận đến giữa năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, anh Đ không có việc làm ổn định dẫn đến kinh tế chung gia đình khó khăn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng xúc phạm nhau. Do mâu thuẫn, chị T đã về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân nhau từ giữa năm 2020 cho đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên chị T đề nghị được ly hôn anh Vũ Quang Đ.

Về con chung: Chị và anh Vũ Quang Đ có một con chung tên Vũ Bảo Lộc sinh ngày 12 tháng 9 năm 2019. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng để anh Đ được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và đề nghị tự thỏa thuận với anh Đ về việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị và anh Vũ Quang Đ không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Anh Vũ Quang Đ là bị đơn, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa lần thứ hai, song anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về quan hệ hôn nhân, nuôi con chung và tài sản chung.

Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa sơ thẩm hôm nay. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, đã thực hiện đúng và đầy đủ quy định về ra Thông báo thụ lý vụ án, bảo đảm về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc lập hồ sơ vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, việc giao nộp và yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ, xác minh, cấp tống đạt và tổ chức phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã đảm bảo tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Vũ Thị T và đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị T được ly hôn anh Vũ Quang Đ; Về con chung: Giao con chung tên Vũ Bảo Lộc sinh ngày 12 tháng 9 năm 2019 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Để hai bên tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên kiểm sát viên không đề cập giải quyết; Về tài sản chung: Chị T trình bày vợ chồng không có tài sản chung; bị đơn anh Vũ Quang Đ vắng mặt tại phiên tòa và không có văn bản trình bày về tài sản chung nên không đề cập giải quyết; Về án phí: Nguyên đơn chị Vũ Thị Thủy phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết

Chị Vũ Thị Thủy có đơn xin ly hôn với anh Vũ Quang Đ. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Vũ Quang Đ hiện đang cư trú tại thôn 2, xã G, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự

Nguyên đơn là chị Vũ Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Vũ Quang Đ đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân

Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị T và anh Vũ Quang Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 07, ngày 18 tháng 3 năm 2019 là hôn nhân hợp pháp. Chị Vũ Thị T trình bày cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận được thời gian ngắn, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn và dẫn đến việc sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chị Thủy và anh Đ là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, cuộc sống chung nhiều bất đồng về quan điểm, về kinh tế chung, nên đã sống ly thân nhau từ năm 2020 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Chị T giữ nguyên đề nghị được ly hôn với anh Vũ Quang Đ; anh Vũ Quang Đ đã nhận được các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt song anh Đ không gửi văn bản trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án để hòa giải vụ việc theo quy định. Từ đây xác định mâu thuẫn hôn nhân giữa chị T và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Thủy, cho chị Vũ Thị T được ly hôn anh Vũ Quang Đ.

[4] Về con chung

Chị Vũ Thị T và anh Vũ Quang Đ có một con chung tên Vũ Bảo L, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2019. Tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện, kể từ khi chị Thủy và anh Đ sống ly thân, anh Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung; việc nuôi con chung của anh Đ đã ổn định. Mặt khác, tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, chị Thủy có lời khai đồng ý để anh Đ được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, để ổn định đời sống của con chung, để đảm bảo nghĩa vụ, quyền lợi của cha mẹ đối với con cái, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Thủy đề nghị để chị và anh Vũ Quang Đ tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

[5] Về tài sản chung

Chị Vũ Thị T trình bày vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn anh Vũ Quang Đ vắng mặt tại phiên tòa và không có quan điểm trình bày về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, chị Vũ Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị T:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị T được ly hôn với anh Vũ Quang Đ.
  2. Về con chung:

    Giao cho anh Vũ Quang Đ trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Vũ Bảo L, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2019, đên khi con chung thành niên và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí: Chị Vũ Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí đã nộp (ghi tại biên lai thu số 0010054 ngày 16/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên), chị Vũ Thị T đã nộp đủ án phí.
  6. Về quyền kháng cáo:

    Chị Vũ Thị T, anh Vũ Quang Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - VKSND huyện T Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện T Nguyên;
  • - UBND xã G, H. Thủy Nguyên;
  • - Lưu: VT; Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Mến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 208/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 208/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger