Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 208/2024/HS-ST.

Ngày: 24-9-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Đô
  2. Bà Trần Thị Thanh Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Thuỳ Chi - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 168/2024/HSST ngày 22 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 267/2024/HSST-QĐ ngày 10/9/2024 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Văn P (tên gọi khác: Út L), sinh ngày 09/7/1987, tại Bình Thuận.

Nơi cư trú: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh, Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị T; Vợ: Cao Thị Thùy T1, con: có 01 người sinh năm 2011.

Tiền án:

  • - Ngày 28/5/2015, TAND huyện Hàm Tân xử 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 40.
  • - Ngày 11/8/2015, TAND huyện Hàm Thuận Bắc xử 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số 65 (được xác định là tái phạm nguy hiểm). Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù tại Bản án số 40 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, buộc phải chấp hành của 02 Bản án là 06 năm 06 tháng tù, chấp hành xong hình phạt ngày 11/11/2019.
  • Ngày 01/02/2007, TAND tỉnh Bình Thuận xử 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số 11, chấp hành xong hình phạt ngày 04/4/2010.
  • Ngày 15/5/2023, TAND huyện Hàm Thuận Nam xử 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 46.
  • Ngày 07/6/2023, TAND huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 66, chấp hành án phạt tù tại Trại giam Z – Bộ C1, hiện được trích xuất đến Nhà tạm giữ Công an thành phố P để điều tra.

Tiền sự: không.

Nhân thân:

Bị cáo P hiện đang đi chấp hành án từ ngày 27/11/2022 và được trích xuất về Nhà tạm giữ Công an thành phố P để phục vụ công tác xét xử, có mặt.

2/ Nguyễn Phạm Hoàng D (tên gọi khác: D1), sinh ngày 01/6/1990, tại Bình Thuận.

Nơi cư trú: khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Thợ điện; Con ông Nguyễn D2, và bà Phạm Thị T2. Vợ: Nguyễn Thị Thanh T3 (chưa đăng ký kết hôn), con: 1 người sinh năm 2009.

Tiền án: Ngày 29/9/2021, TAND thành phố Phan Thiết xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 135, chấp hành xong hình phạt ngày 17/8/2022.

Tiền sự:

  • - Ngày 24/9/2021 Chủ tịch UBND phường P áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng, tại quyết định số 1720.
  • - Ngày 17/11/2022 Chủ tịch UBND phường P áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng, tại quyết định số 321.

Nhân thân: Ngày 15/5/2023, TAND huyện Hàm Thuận Nam xử 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 46, chấp hành án phạt tù tại Trại giam Z – Bộ C1, hiện được trích xuất đến Nhà tạm giữ Công an thành phố P để điều tra.

Bị cáo D hiện đang đi chấp hành án từ ngày 27/11/2022 và được trích xuất về Nhà tạm giữ Công an thành phố P để phục vụ công tác xét xử, có mặt.

3/ Lê Xuân T4 (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 21/12/2003, tại Bình Thuận.

Nơi cư trú: thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12 Giới tính: Nam.Nghề nghiệp: Không; con ông Lê Xuân T5 (đã chết) và bà Cao Thị Thùy D3. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

  • - Ngày 01/4/2022, TAND huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 5.000.000 đồng về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án số 40, được coi là không có án tích do T4 mới 16 tuổi 10 tháng 13 ngày và bị kết án về tội ít nghiêm trọng.
  • Ngày 15/5/2023, TAND huyện Hàm Thuận Nam xử 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 46.
  • Ngày 07/6/2023, TAND huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 66, chấp hành án phạt tù tại Trại giam Z – Bộ C1, hiện được trích xuất đến Nhà tạm giữ Công an thành phố P để điều tra.

Bị cáo T4 hiện đang đi chấp hành án từ ngày 27/11/2022 và được trích xuất về Nhà tạm giữ Công an thành phố P để phục vụ công tác xét xử, có mặt.

* Bị hại: Bà Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1990 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Ngọc T6, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: khu phố G, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 21/11/2022, Nguyễn Văn P, Nguyễn Phạm Hoàng D và Lê Xuân T4 cùng rủ nhau đi tìm tài sản để trộm bán lấy tiền tiêu xài nên P điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở D và T4 chạy vòng quanh trên các tuyến đường thuộc xã P, thành phố P. Khi đi đến trước cổng Trường mầm non T10 thuộc thôn X, xã P thì phát hiện chiếc xe mô tô biển số 86C1-784.02 của chị Huỳnh Thị Kim H đang dựng trước cổng trường, không có ai trông coi, trên xe có cắm sẵn chìa khóa nên cả nhóm dừng xe lại, P và T4 đứng bên kia đường cảnh giới, D đi đến nơi xe mô tô biển số 86C1-784.02, khởi động máy và điều khiển xe rời đi, cả nhóm chạy về phòng trọ của P tại thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận để cất giấu. Đến khoảng 21 giờ ngày 22/11/2022, D, P và T4 điều khiển xe mô tô biển số 86C1-784.02 xuống thành phố P gặp Đào Ngọc T6, tại đây P nói với T6 là xe mô tô của người nhà đưa cho P sử dụng, do kẹt tiền nên nhờ T6 tìm người cầm thế xe dùm thì T6 đồng ý. T6 dẫn P đến thị trấn P, huyện H gặp người đàn ông tên Tèo L1 (không rõ nhân thân) để cầm thế xe mô tô biển số 86C1-784.02 lấy 3.500.000 đồng.

Bị mất tài sản, ngày 21/11/2022 Huỳnh Thị Kim H đến Công an xã P trình báo sự việc.

Vật chứng của vụ án: Xe mô tô biển số 86C1-784.02 chưa thu hồi được.

Tại Kết luận định giá tài sản số 265 ngày 18/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố P kết luận: Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen xám, biển số 86C1-784.02, số máy E3X9E467510, số khung 3220JY095959, xe đã qua sử dụng, mua mới vào 12/8/2018, có giá trị là 7.000.000 đồng.

Xử lý vật chứng và dân sự: Đối với chiếc xe mô tô (không rõ biển số) mà P dùng để chở D và T4 đi trộm cắp tài sản vào ngày 21/11/2022 là tang vật trong một vụ án khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu.

Huỳnh Thị Kim H yêu cầu Nguyễn Văn P, Nguyễn Phạm Hoàng D và Lê Xuân T4 bồi thường số tiền 7.000.000 đồng do xe mô tô biển số 86C1-784.02 chưa thu hồi được.

Tại các lời khai, biên bản hỏi cung các bị cáo, biên bản ghi lời khai của bị hại trong quá trình điều tra đều thể hiện bị cáo P, D, T4 lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị H có giá trị là 7.000.000 đồng.

Với hành vi nêu trên, ngày 21/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết ra bản cáo trạng số 165/CT-VKS truy tố bị cáo P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, truy tố bị cáo D, bị cáo T4 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu lời luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thừa nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của chị H có trị giá là 7.000.000 đồng, do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo D, bị cáo T4 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đề nghị xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo D đã có tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. P, T4 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo P, Danh T7 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, các bị cáo được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Hoàng Danh T8 12 tháng tù đến 18 tháng tù. Tổng hợp với phần hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “trộm cắp tài sản” tại bản án số 46/2023/HSST ngày 15/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Hình phạt chung buộc bị cáo D phải chấp hành cho cả hai bản án là 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Xuân T4 từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết. Các bị cáo biết việc làm của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ buộc tội các bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, các bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, cũng như lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 21/11/2022, tại trước cổng Trường mầm non T10 thuộc thôn X, xã P, thành phố P. P, D và T4 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 86C1-784.02, trị giá 7.000.000 đồng của Huỳnh Thị Kim H thì bị phát hiện.

Nguyễn Văn P ngày 11/8/2015, TAND huyện Hàm Thuận Bắc xử 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số 65 (được xác định là tái phạm nguy hiểm). Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù tại Bản án số 40 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, buộc phải chấp hành của 02 Bản án là 06 năm 06 tháng tù, chấp hành xong hình phạt ngày 11/11/2019, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác; các bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức cũng như khả năng điều khiển hành vi và thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý. Do đó Cáo trạng số 165/CT-VKS ngày 22/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điềm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, truy tố các bị cáo D, T4 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Vụ án có đồng phạm giản đơn, trong đó P là người khởi xướng; P, D là người cảnh giới và T4 là người thực hiện tích cực hành vi phạm tội do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự chung về hành vi phạm tội do mình gây ra.

Hành vi của các bị cáo không chỉ đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử phạt một mức án tù tương xứng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo D đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo P, bị cáo T4 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo P, Danh T7 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Hiện nay vật chứng không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về bồi thường dân sự: Các bị cáo P, D, T7 đã bồi thường cho bị hại số tiền 7.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Ngày 15/5/2023, D bị Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “ trộm cắp tài sản”. Nay bị cáo D lại bị xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 để tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án.

[9] Đối với Đào Ngọc T6 không biết xe mô tô biển số 86C1-784.02 mà P nhờ bán là tài sản do phạm tội mà có và đối tượng tên Tèo L1 không rõ nhân thân nên không có căn cứ để xử lý.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • * Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • * Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.
  • * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phạm Hoàng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • * Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phạm Hoàng D 01 (một) năm tù. Tổng hợp với phần hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “ trộm cắp tài sản” tại bản án số 46/2023/HSST ngày 15/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành cho cả hai bản án là 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/11/2022.
  • * Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • * Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân T4 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • * Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân T4 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  • * Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo P, D, T4 mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt các bị cáo, bị hại; báo cho biết các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (24/9/2024); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tp Phan Thiết;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an thành phố P;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND phường P, tp ., BT;
  • - UBND xã H, huyện H, BT;
  • - UBND xã H, huyện H, BT;
  • - Thi hành án tp P;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

PHAN THỊ THÁI

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 208/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 208/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Phạm Hoàng Danh và Lê Xuân Thiện phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger