Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 208/2024/HS-ST

Ngày 04 - 9 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thành Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Lập.

Bà Lê Thu Thúy.

- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Vân Anh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Trần Mạnh Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 182/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Ngọc H, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1981, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ H, khu B, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân T và bà Nguyễn Thị D; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 22/12/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 18/7/2012 chấp hành xong hình phạt tù và đã chấp hành xong toàn bộ bản án; bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024, đến ngày 13/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh; hiện tại ngoại nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại: bà Lê Thị H1, 42 tuổi; nơi cư trú: tổ A, khu B, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Vũ Thanh L, 21 tuổi; nơi thường trú: 10, khu B, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác (những người làm chứng): anh Trần Văn Đ, anh Hoàng Văn D1 và anh Vũ Đức T1 đều vắng mặt; anh Phạm Ngọc T2 có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 06/3/2024, Phạm Ngọc H đi bộ một mình đến khu vực chợ B thuộc tổ G, khu B, phường G, thành phố H thì thấy cạnh tường bao của Công ty Y (cách cổng phụ chợ B khoảng 20 mét) có 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE &, màu sơn đen bạc, biển kiểm soát (BKS) 14B1-818.86 của bà Lê Thị H1, sinh năm 1982, trú tại: tổ A, khu B, phường G, thành phố H, đang dựng sát tường, không có ai trông giữ nên H tiến lại gần chiếc xe mô tô trên để kiểm tra thì thấy xe mô tô trên không khóa cổ nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. H liền đi bộ dắt theo xe mô tô trên đến quán S, địa chỉ tại tổ F, khu F, phường G, thành phố H của anh Trần Văn Đ, sinh năm 1989, trú tại: thôn A, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Tại đây H nói dối là xe của H và yêu cầu anh Đ thay ổ khóa mới cho chiếc xe mô tô trên. Anh Đ thay mới khóa điện và khóa cốp chiếc xe mô tô và bảo H hết 420.000 đồng. H bảo không cầm tiền để H đi xe mô tô về nhà lấy tiền sau đó quay lại trả thì anh Đ đồng ý. Sau đó, H cắm chìa khóa mới vào ổ khóa điện và đề nổ máy xe mô tô rồi điều khiển xe ra khu vực bến xe Bãi Cháy thuộc tổ A, khu D, phường G, thành phố H để bán chiếc xe mô tô trên. Tại khu vực bến xe Bãi Cháy, H thấy có cửa hàng mua bán xe mô tô “Dũng Q” sát cổng bến xe Bãi Cháy nên điều khiển xe vào cửa hàng và gặp anh Hoàng Văn D1, sinh năm 1991, trú tại: tổ I, khu D, phường G, thành phố H là chủ cửa hàng. Quá trình trao đổi, anh D1 hỏi H về giấy tờ xe mô tô thì H bảo không có nên anh D1 không đồng ý mua. Sau đó, H điều khiển xe mô tô đến sân nhà anh Vũ Đức T1, sinh năm 1972, trú tại: tổ E, khu F, phường G, thành phố H để nhờ gửi xe thì anh T1 đồng ý. Sau đó, H đi bộ về nhà.

Khoảng 9 giờ 10 phút ngày 06/3/2024, bà Lê Thị H1 quay ra thì không thấy xe mô tô đâu nên đến Công an phường G trình báo. Cùng ngày, H đến Công an phường G đầu thú, đồng thời anh Vũ Đức T1 giao nộp lại xe mô tô BKS 14B1-818.86 cho cơ quan Công an.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 38 ngày 08/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H thể hiện: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave &, màu sơn đen bạc, BKS 14B1-818.86, mua mới tháng 02/2022, xe đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá tháng 03/2024 trị giá 14.509.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 159 ngày 13/6/2024 của V kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị cáo Phạm Ngọc H không có bệnh tâm thần. Tại các thời điểm trên bị cáo đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã đã thu hồi được tài sản và trả lại cho chị Vũ Thanh L là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô nêu trên. Bà H1 và chị L đều không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Giai đoạn điều tra, bà Lê Thị H1 khai: ngày 06/3/2024, bà mượn xe máy của con gái mình đến chợ B, để ngoài không khóa, sau đó ra thì bị mất nên đã trình báo cơ quan Công an. Sau đó, gia đình bà đã nhận lại được tài sản và không có ý kiến gì. Chị Vũ Thanh L, khai: xe mô tô của chị đã cho mẹ chị là bà Lê Thị H1 mượn đi chợ ngày 06/3/2024 thì bị trộm cắp. Chị đã nhận được tài sản và không có yêu cầu gì.

Giai đoạn điều tra, những người làm chứng khai báo nội dung sự việc mà mình được chứng kiến phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu. Tại phiên tòa, anh Phạm Ngọc T2 khai: bị cáo là em trai của mình. Sau khi nghe mọi người nói có camera nhà dân ghi lại cảnh em mình trộm cắp xe máy, anh đã về nhà vận động em mình ra đầu thú.

Tại bản Cáo trạng số: 3236/CT-VKS-HL ngày 30 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 07 tháng 3 năm 2024 đến ngày 13 tháng 3 năm 2024.

- Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy 01 cụm khóa điện xe mô tô và 01 ổ khóa xe mô tô.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về việc xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án: chị Vũ Thanh L là chủ sở hữu tài sản bị trộm cắp theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và đã được Cơ quan điều tra trả lại tài sản sau khi bị trộm cắp, nhưng Viện kiểm sát không xác định và đề nghị triệu tập chị L đến phiên tòa với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không đúng quy định tại Điều 65 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[1.3] Về việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng tại phiên tòa: giai đoạn điều tra họ đã có lời khai về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án và trách nhiệm dân sự trong vụ án cũng đã giải quyết xong, không có ai có ý kiến gì. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ vẫn đảm bảo thực hiện đúng quy định các điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung truy tố:

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng khai báo toàn bộ nội dung vụ việc, các đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của nhà dân ghi lại thời gian, địa điểm, phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với tài sản bị trộm cắp đã thu giữ, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản ảnh, Biên bản nhận dạng, bản Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản thành phố H, cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 09 giờ 10 phút ngày 06/3/2024, tại khu vực cổng phụ chợ B thuộc tổ G, khu B, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Phạm Ngọc H đã lợi dụng sơ hở của bị hại không trông coi, bảo vệ tài sản, đã lén lút trộm cắp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave &, màu sơn đen – bạc, biển kiểm soát 14B1-818.86 trị giá 14.509.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm lẻ chín nghìn đồng) do bà Lê Thị H1 đang quản lý, sử dụng mang đi bán không được rồi gửi cất giấu để bán tiêu sài cá nhân, thì bị cơ quan Công an truy tìm, thu giữ.

[2.2] Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:...”

[2.3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có cơ sở pháp luật.

[2.4] Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây bức xúc cho bị hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội. Mặc dù trước đó bị cáo đã bị Tòa án xử phạt tù do phạm tội về ma túy, nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, lần này lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh.

[2.5] Sau khi phạm tội, bị cáo được người thân trong gia đình vận động đã đầu thú, thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, có mẹ đẻ là người có công với Cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận được đơn xin vắng mặt và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Đối với hình phạt chính: căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo có nhân thân xấu; bản thân có đủ sức khỏe nhưng lười lao động; mục đích phạm tội lấy tiền tiêu sài cá nhân; sau khi phạm tội bị phát hiện không tự nguyện giao nộp tài sản trộm cắp mà do người khác giao nộp. Vì vậy, cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo.

[3.2] Đối với hình phạt bổ sung: theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Nhưng xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: giai đoạn điều tra tài sản bị trộm cắp đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì, Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Đối với anh Vũ Đức T1 đã cho bị cáo gửi nhờ xe mô tô nhưng không biết đó là tài sản do bị cáo trộm cắp, sau khi được cơ quan Công an yêu cầu cũng đã tự nguyện giao nộp tài sản, nên không có lỗi và không phải chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật.

[6] Về vật chứng: 02 ổ khóa xe mô bị trộm cắp do anh Đ sửa chữa, thay thế nộp lại cho cơ quan Công an đều đã qua sử dụng, là vật chứng của vụ án, không còn giá trị, cũng không có ai yêu cầu được nhận lại, cần tịch thu và tiêu hủy.

[7] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1, các điểm a và c khoản 2 Điều 106, các khoản 1 và 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các khoản 1 và 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm a khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

  1. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H 09 (chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07 tháng 3 năm 2024 đến ngày 13 tháng 3 năm 2024.
  2. Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) cụm khóa điện xe mô tô kí hiệu 2A001 và 01 (một) ổ khóa xe mô tô có số 2BBQ126 đều đã qua sử dụng theo Biên bản giao vật chứng, tài sản số: 268/BB-THA ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
  3. Buộc bị cáo Phạm Ngọc H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án này có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn mười lăm ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại; người CQLNVLQ;
  • - VKSND TP. Hạ Long;
  • - VKSND T. Quảng Ninh;
  • - CQ điều tra, CQ Hồ sơ nghiệp vụ và
  • CQ THAHS Công an TP. Hạ Long;
  • - Chi cục THADS TP. Hạ Long;
  • - TAND T. Quảng Ninh;
  • - Sở tư pháp T. Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ; Lưu TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 208/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 208/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger