Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2023/HS-ST

Ngày 21 tháng 11 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Phạm Văn Tú

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Ngô Thị Vân

Bà Nguyễn Thị Vượng

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Văn Hưng-Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà:Ông Vi Xuân Vượng- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 211/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2023/QĐXXST-HS ngày 07/11/2023 đối với bị cáo:

Trần Văn H, sinh năm 1996; Tên gọi khác: Không.

HKTT: Khu P, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Nơi ở hiện nay: Thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12. Giới tính: Nam.

Bố: Trần Văn N, sinh năm 1969. Mẹ: Phan Thị V, sinh năm 1969. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ 2.

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2021/HS-ST ngày 22/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/3/2022.

Nhân thân: Ngày 26/7/2023 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: Không

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B trong vụ án khác - Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Điện lực thành phố B, tỉnh Bắc Giang

Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Huy T1, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên

- Anh Nguyễn Quang H1, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ: số A, đường N, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:Trần Văn H, sinh năm 1996, trú tại thôn H, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Từ ngày 04/6/2023 đến ngày 15/7/2023, H đã thực hiện 04 vụ trộm cắp dây cáp điện tại các trạm biến áp trên địa bàn thành phố B do Điện lực thành phố B quản lý, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 03/6/2023, Trần Văn H điều khiển xe mô tô BKS 89E1-068.30 đi đến thành phố B mục đích để cắt trộm dây cáp điện. H mang theo 01 bộ quần áo mưa, 02 chiếc kìm, 02 chiếc cà lê, 01 con dao cắt giấy, 01 hộp nhựa đựng lưỡi dao cắt giấy, 01 chiếc đèn pin và cất giấu những công cụ này trong cốp xe máy.

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 04/6/2023, H đi đến đường L thuộc tổ dân phố H, phường H, thành phố B thì nhìn thấy trên vỉa hè có đặt một trạm biến áp (trạm biến áp L) nên dừng lại để trộm cắp. H mở cốp xe lấy chiếc kìm chuôi màu đỏ và con dao cắt giấy rồi trèo lên cột điện bằng thang gắn trên cột điện. H dùng kìm cắt đứt một đoạn dây cáp điện trung tính nhãn hiệu Cadisun, Cu/XLPE/PVC 0,6/1 kv 1Cx120, dài 3,5m trên máy biến áp nối với tủ phân phối điện rồi trèo xuống cất kìm và dao cắt giấy vào trong cốp xe máy và để dây cáp điện lên yên xe rồi điều khiển xe tiếp tục đi cắt trộm dây cáp điện của Điện lực thành phố B.

Cũng với phương thức, thủ đoạn như trên, H đi đến trạm biến áp đường A, đường L, tổ dân phố V, phường H, thành phố B cắt trộm một đoạn dây cáp điện trung tính nhãn hiệu Cadisun, Cu/XLPE/PVC 0,6/1 kv 1Cx150, dài 3,3m. Tiếp đó, H đi đến trạm biến áp V1, đường L, tổ dân phố V, phường H, thành phố B cắt trộm một đoạn dây cáp điện trung tính, nhãn hiệu Cadisun, Cu/XLPE/PVC 0,6/1 kv 1Cx120 dài 3,2m. Sau đó, H đi đến trạm biến áp công viên số A, đường C, tổ dân phố H, phường H, thành phố B cắt trộm một đoạn dây cáp điện trung tính nhãn hiệu Cadisun, Cu/XLPE/PVC 0,6/1 kv 1Cx185 dài 3,6 m.

Sau khi cắt dây cáp điện tại các địa điểm nêu trên, H điều khiển xe đi ra đường cao tốc đi từ Bắc Giang về Bắc Ninh. Trên đường đi, Hoàng rẽ vào bãi đất trống ở ven đường dùng dao cắt giấy tách bóc vỏ dây điện và lấy dây đồng để mang đi bán. Khi về đến địa phận huyện T, tỉnh Bắc Ninh, Hoàng rẽ vào một cửa hàng mua bán sắt vụn ở gần đường bán toàn bộ số dây cáp điện đã trộm cắp được 1.943.000 đồng.

Các kết luận định giá tài sản số 171, 172, 173, 175/KL-HĐĐG cùng ngày 05/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

  • - 3,5m dây cáp điện nhãn hiệu Cadisun, Cu/XLPE/PVC 0,6/1 kv 1Cx120, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 04/6/2023 là 350.000 đồng.
  • - 3,3m dây cáp điện nhãn hiệu Cadisun, Cu/XLPE/PVC 0,6/1 kv 1Cx150, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 04/6/2023 là 561.000 đồng.
  • - 3,2m dây cáp điện nhãn hiệu Cadisun, Cu/XLPE/PVC 0,6/1 kv 1Cx120, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 04/6/2023 là 384.000 đồng.
  • - 3,6m dây cáp điện nhãn hiệu Cadisun, Cu/XLPE/PVC 0,6/1 kv 1Cx185, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 04/6/2023 là 648.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09/6/2023, Trần Văn H điều khiển xe mô tô BKS 89E1-068.30 đi đến thành phố B để cắt trộm dây cáp điện. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, H đi đến đường Y, phường N, thành phố B thì nhìn thấy có trạm biến áp đặt trên vỉa hè đường (trạm biến áp Công an phường N) nên dừng xe để trộm cắp. H mở cốp xe máy lấy chiếc kìm chuôi màu đỏ và dao cắt giấy rồi trèo lên cột điện bằng thang gắn trên cột điện, dùng kìm cắt đứt một đoạn dây cáp điện trung tính nhãn hiệu Cadisun, Cu/XLPE/PVC 0,6/1 kv 1Cx120, dài 3,5m trên máy biến áp nối với tủ phân phối điện. Cắt dây cáp điện xong, H trèo xuống cất kìm và dao vào trong cốp xe máy và để dây cáp điện lên yên xe máy rồi điều khiển xe máy tiếp tục đi tìm địa điểm trộm cắp nhưng không tìm được. H đi xe máy ra đường cao tốc đi từ Bắc Giang về Bắc Ninh sau đó dùng dao bóc tách vỏ dây điện và lấy dây đồng. Khi về đến địa phận huyện T, tỉnh Bắc Ninh, H đem số dây đồng vừa trộm cắp vào bán cho một cửa hàng mua bán sắt vụn không nhớ rõ địa chỉ được 455.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 176/KL-HĐĐG ngày 05/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

  • - 3,5m dây cáp điện nhãn hiệu Cadisun, Cu/XLPE/PVC 0,6/1 kv 1Cx120 đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 09/6/2023 là 455.000 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 21/6/2023, H điều khiển xe mô tô BKS 89E1-068.30 đi đến thành phố B để cắt trộm dây cáp điện. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 22/6/2023, H đi đến thôn P, xã T, thành phố B thì nhìn thấy có một trạm biến áp ở rìa đường (trạm biến áp thôn P) nên dừng xe để trộm cắp. H mở cốp xe máy lấy chiếc kìm chuôi màu đỏ và dao cắt giấy rồi trèo lên cột điện bằng thang gắn trên cột điện, dùng kìm cắt đứt một đoạn dây cáp điện ba pha, nhãn hiệu Cadisun, Cu/XLPE/PVC 0,6/1 kv 1Cx240 dài 3,1m và một đoạn dây cáp điện trung tính, nhãn hiệu Cadisun, Cu/XLPE/PVC 0,6/1 kv 1Cx185 dài 3,3m. Cắt dây cáp điện xong, H trèo xuống cất kìm và dao vào trong cốp xe máy và để dây cáp điện lên yên xe máy rồi điều khiển xe máy tiếp tục đi trộm cắp dây cáp điện nhưng

không tìm được. Trên đường cao tốc đi từ Bắc Giang về Bắc Ninh, Hoàng rẽ vào bãi đất trống ven đường dùng dao bóc tách vỏ dây điện và lấy dây đồng. Đi về đến địa phận huyện T, tỉnh Bắc Ninh, H bán dây đồng cho một cửa hàng mua bán sắt vụn không nhớ rõ địa chỉ được 1.208.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 174/KL-HĐĐG ngày 05/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

  • - 3,1m dây cáp điện nhãn hiệu Cadisun, Cu/XLPE/PVC 0,6/1 kv 1Cx240 đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 22/6/2023 là 713.000 đồng
  • - 3,3m dây cáp điện nhãn hiệu Cadisun, Cu/XLPE/PVC 0,6/1 kv 1Cx185, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 22/6/2023 là 495.000 đồng.

Vụ thứ tư: Khoảng 22 giờ 30 ngày 14/7/2023, Trần Văn H khiển xe mô tô BKS 98L4-7786 đi đến thành phố B để trộm cắp dây cáp điện. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, H đi đến đường N, tổ dân phố H, phường T, thành phố B thì nhìn thấy trạm biến áp đặt trên vỉa hè đường (trạm biến áp Cống N) nên dừng xe. H mở cốp xe lấy chiếc kìm chuôi màu đỏ và dao cắt giấy rồi trèo lên cột điện bằng thang gắn trên cột điện dùng kìm cắt đứt ba đoạn dây cáp điện ba pha nhãn hiệu Cadisun, Cu/XLPE/PVC 0,6/1 kv 1Cx240, mỗi đoạn dây cáp điện dài 3,5m trên máy biến áp nối với tủ phân phối điện. H trèo xuống cất kìm, dao vào trong túi nilon và để dây cáp điện lên yên xe máy rồi điều khiển xe tiếp tục đi tìm địa điểm trộm cắp nhưng không tìm được. Trên đường cao tốc đi từ Bắc Giang về Bắc Ninh, Hoàng rẽ vào bãi đất trống ở gần đường dùng dao bóc tách vỏ dây điện và lấy lõi đồng. Khi về đến địa phận huyện T, tỉnh Bắc Ninh, H đem số dây đồng vừa trộm cắp vào bán cho một cửa hàng mua bán sắt vụn không nhớ rõ địa chỉ được 2.940.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 143/KL-HDĐG ngày 27/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

  • - 03 dây cáp điện nhãn hiệu Cadisun, Cu/XLPE/PVC 0,6/1 kv 1Cx240, mỗi dây dài 3,5, tổng chiều dài là 10,5m có giá trị tại thời điểm ngày 15/7/2023 là 2.940.000 đồng.

Ngày 15/7/2023, anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1982, trú tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang là đại diện theo ủy quyền của Điện lực B có đơn trình báo Công an thành phố B và xác định bị cắt trộm dây cáp điện tại các địa điểm và số mét dây cáp điện bị trộm cắp như nêu trên. Điện lực B đã thay thế dây cáp điện tại các vị trí bị trộm cắp.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác định hiện trường các vụ trộm cắp và trích xuất dữ liệu thu giữ tại camera giám sát an ninh của gia đình ông Lại Hồng D, sinh năm 1976, trú tại số nhà D+48 đường L, tổ dân phố số H, phường T, thành phố B có ghi lại hình ảnh đối tượng trộm cắp dây cáp điện tại trạm biến áp C và trưng cầu giám định.

Kết luận giám định số 1824 ngày 29/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 đoạn video gửi giám định.
  2. Trích xuất được 16 hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong các file video gửi giám định.

Ngày 26/7/2023, Trần Văn H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố và tạm giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trích xuất lấy lời khai H thì H thừa nhận đã thực hiện 04 vụ cắt trộm dây cáp điện tại các trạm biến áp trên địa bàn thành phố B. Cơ quan điều tra đã cho bị can Hoàng tự xác định các địa điểm cắt trộm dây cáp điện. Kết quả H xác định đúng vị trí, địa điểm mà H đã cắt trộm dây cáp điện như bị can đã khai.

Ngày 5/9/2023, Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã cho Trần Văn H xem 02 đoạn video đã thu giữ. Kết quả, H xác định có hình ảnh H điều khiển xe máy kiểu dáng Honda Dream, mặc áo phông cộc tay màu đen, mặc quần dài màu đen, đội mũ bảo hiểm màu đen, đi dép nhựa màu trắng và đeo khẩu trang màu trắng. H điều khiển xe máy đi đến trạm biến áp sau đó điều khiển xe máy đi cất giấu rồi đi bộ quay lại trạm biến áp trèo lên cột điện và cắt trộm dây cáp điện của trạm biến áp.

Về vật chứng vụ án: Theo Trần Văn H khai sau khi trộm cắp dây cáp điện trên địa bàn thành phố B thì Hoàng tách lấy dây đồng rồi bán cho cửa hàng thu mua sắt vụn ở ven đường. Do những lần mang dây cáp điện đi bán đều vào ban đêm nên H không nhớ địa chỉ cụ thể. Do vậy. Cơ quan điều tra không xác định được cửa hàng đã thu mua dây cáp điện do H đã trộm cắp đem đi bán và không thu giữ được vật chứng.

Kết quả điều tra xác định Hoàng mượn của anh Nguyễn Huy T1, sinh năm 1988, trú tại thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên chiếc xe mô tô BKS 89E1-068.30 còn chiếc xe mô tô BKS 98L4-7786 là Hoàng mượn của anh Nguyễn Quang H1, sinh năm 1979, trú tại số A, đường N, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Anh T1 và anh H1 đều không biết H mượn xe làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Chiếc xe mô tô BKS 89E1-068.30; 01 bộ quần áo mưa, 02 chiếc kìm, 02 chiếc cà lê, 01 con dao cắt giấy, 01 hộp bằng nhựa đựng lưỡi dao cắt giấy; 01 chiếc đèn pin và 01 chiếc mũ bảo hiểm là những công cụ, phương tiện mà H sử dụng để trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã thu giữ số vật chứng này và xử lý trong vụ án khác.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Ngọc T là đại diện theo ủy quyền của Điện lực thành phố B yêu cầu bị can Trần Văn H bồi thường số tiền 6.546.000 đồng.

Bản cáo trạng số 216/CT-VKS ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Trần Văn H tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Trần Văn H tù đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự.
  • Buộc bị cáo Trần Văn H phải bồi thường cho Điện lực thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang số tiền 6.546.000 đồng.
  • - Án phí căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Bị cáo Trần Văn H chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 327.000 đồng án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
  • Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát viên nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho những người tham gia tố tụng, tại phiên tòa những người

này vắng mặt, Kiểm sát viên, bị cáo đều đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án, xét thấy đã có lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong hồ sơ và sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử, HĐXX căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án theo quy định.

[3]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu giữ được có đủ cơ sở kết luận: Trần Văn H đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Từ ngày 04/6/2023 đến ngày 15/7/2023, H đã thực hiện 04 vụ trộm cắp dây cáp điện tại các trạm biến áp trên địa bàn thành phố B do Điện lực thành phố B quản lý sau đó đem đi bán, cụ thể như sau:

  • Ngày 04/6/2023, Trần Văn H trộm cắp tại các trạm biến áp khu vực phường H, thành phố B tổng số 13,6 m dây cáp điện có tổng trị giá là 1.943.000 đồng.
  • Ngày 09/6/2023, Trần Văn H trộm cắp tại trạm biến áp khu vực phường N, thành phố B 3,5 m dây cáp điện trị giá 455.000 đồng.
  • Ngày 22/6/2023, Trần Văn H trộm cắp tại trạm biến áp khu vực xã T, thành phố B 6,4 m dây cáp điện trị giá 1.208.000 đồng.
  • Ngày 14/7/2023, Trần Văn H trộm cắp tại trạm biến áp khu vực phường T, thành phố B 10,5 m dây cáp điện trị giá 2.940.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà H trộm cắp trong 4 vụ là 6.546.000 đồng.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định trật tự về an ninh tại địa phương và dư luận quần chúng nhân dân lên án. Giá trị tài sản bị cáo trộm cắp tuy không lớn nhưng đã gây thiệt hại cho Điện lực thành phố B phải khắc phục sửa chữa làm mới lại đường dây cáp điện tại các trạm biến áp do bị cáo trộm cắp và làm ảnh hưởng đến các cơ quan, tổ chức và cá nhân đang sử dụng điện tại địa bàn thành phố B, vì thế hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm trước pháp luật.

[5]. Đánh giá về nhân thân và mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã có 01 tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2021/HS-ST ngày 22/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 26/7/2023 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2023/HS-ST ngày 14/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến nay bản án của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh chưa có hiệu lực pháp luật, nên Hội đồng xét xử không tổng hợp bản án trong vụ án này. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương trong thời gian chưa được xóa án tích bị cáo không nhận thức được việc

làm của mình mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý, chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật. Vì vậy cần có một mức án là hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng giáo dục cải tạo riêng bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội vừa có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung

[6]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo phạm tội hai lần trở lên và thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải và bị cáo có thời gian tham gia trong quân đội đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[8]. Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại là Điện lực thành phố B- Đại diện theo ủy quyền là anh Nguyễn Ngọc T mặt tại phiên tòa, trong quá trình điều tra vụ án yêu cầu bị cáo Trần Văn H bồi thường giá trị dây cáp điện do bị cáo trộm cắp là 6.546.000 đồng, ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Xét yêu cầu bồi thường của Điện lực thành phố B là có căn cứ cần chấp nhận, buộc bị cáo phải bồi thường cho Điện lực thành phố B số tiền 6.546.000 đồng.

[9]. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Huy Thuận và anh Nguyễn Quang H bị cáo H xe máy để sử dụng, nhưng đều không biết việc H mượn xe để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

[10]. Về vật chứng là chiếc xe mô tô BKS 89E1-068.30; 01 bộ quần áo mưa, 02 chiếc kìm, 02 chiếc cà lê, 01 con dao cắt giấy, 01 hộp bằng nhựa đựng lưỡi dao cắt giấy; 01 chiếc đèn pin và 01 chiếc mũ bảo hiểm là những công cụ, phương tiện mà H sử dụng để trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã thu giữ số vật chứng này và xử lý trong vụ án khác, do vậy không đặt ra giải quyết trong vụ án này.

[11]. Về hình phạt bổ sung bằng tiền bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[12]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

[13]. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều

589 Bộ luật dân sự, Điều 23, Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Trần Văn H 01 (một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Văn H phải bồi thường cho Điện lực thành phố B số tiền 6.546.000 đồng (Sáu triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn đồng)

4. Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 327.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy đinh tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - Bị cáo; bị hại, người liên quan;
  • - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 208/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 208/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger