Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 208/2024/HS-ST

Ngày: 20-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Nghiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đăng Vạn
  2. Ông Phạm Văn Phước

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hương và ông Nguyễn Văn Duy – Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 208/2024/HSST ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M, sinh ngày 16/12/1995, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Đăng ký Hộ khẩu thường trú: Số C Đường B, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số D, Cầu X, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không có; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh 1965 và bà Lê Thị Mỹ C, sinh 1970; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con lớn; Tiền án: Ngày 03/01/2020 bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 03/2020/HS-PT ngày 03/01/2020), chưa đóng án phí; Tiền sự: không. Đã áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ 28/12/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Đỗ Thị Ngọc A, sinh năm 1985.

Địa chỉ: H Đường F, khu dân cư B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Lê Minh H, sinh năm 1996

Địa chỉ: A N, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1990

Địa chỉ: A Cầu X, khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Ông Phạm Tài Vũ C1, sinh năm 1987

Địa chỉ: H Đường F, khu dân cư B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có Đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Văn M nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 13/12/2023 M gọi điện thoại cho Lê Minh H (sinh năm:1996) mượn xe làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. H không biết M mượn xe để nhằm mục đích đi trộm cắp nên đã đồng ý và giao xe hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển số 60B4-69110 cho M. Sau khi mượn được xe M điều khiển xe chạy lòng vòng quanh khu vực phường P tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đến trước số nhà H đường F, khu dân cư B, phường P, thành phố T do bà Đỗ Thị Ngọc A và ông Phạm Tài Vũ C1 là chủ sở hữu thấy cửa cổng phụ mở nên M để xe bên ngoài rồi vào trong nhà, M nhìn thấy có người ngủ bên trong nên quay trở ra vì sợ bị phát hiện. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 14/12/2023, M tiếp tục điều khiển xe quay lại nhà của bà A, ông C1 và vào nhà đi bằng cổng phụ lên căn phòng trên lầu phía bên phải thấy cửa khép hờ, M đẩy cửa vào phòng lấy 01 máy tính xách tay hiệu Microsoft Surface Pro 7 màu bạc đem xuống tầng trệt, rồi quay trở lên phòng phía bên trái trên lầu thấy 01 giỏ xách màu đen bên trong có: 01 bộ tai nghe A1, 01 điện thoại Iphone 13 promax, màu xanh rêu và 11.600.000 đồng ở đầu giường, M lục lấy hết đồ trong giỏ xách rồi đi ra khỏi nhà, điều khiển xe về nhà trọ tại địa chỉ số D, Cầu X, khu phố E, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh cất giấu tài sản trộm cắp được vào túi xách màu đen của M. Ngày 16/12/2023 M đem điện thoại bán cho 01 người thông qua mạng Facebook được 5.000.000 đồng. Ngày 17/12/2023 bán bộ T1 nghe cho 01 người khác qua Facebook được 1.200.000 đồng, bán máy tính cho 01 người khác qua Facebook được 3.000.000 đồng. Mỗi lần bán xong M xóa thông tin điện thoại. Số tiền bán được M dùng để chuộc xe máy, điện thoại và Giấy phép lái xe tại tiệm cầm đồ Hoàng A2 tại địa chỉ số A C, khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Vũ Thị H1 làm chủ hết 6.120.000 đồng, phần còn lại M đưa tiền mặt nhờ người nạp vào tài khoản để chơi game chứng khoán.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Nguyễn Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên (Bút lục 39, 41, 43).

Bản kết luận định giá tài sản số: 42-KV2/KLÐG-HĐĐGTS ngày 06/03/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: “01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 256G màu xanh rêu trị giá 12.933.000 ngàn đồng, 01 bộ tai nghe AirPods Pro 2 hiệu Apple màu trắng trị giá 2.930.000 ngàn đồng. 01 máy tính xách tay và bàn phím, hiệu Microsoft SurfacePro 7 màu bạc trị giá 6.896.000 ngàn đồng".

Vật chứng vụ án.

  • - 01 túi vải màu đen có chữ “Rona nón bảo hiểm cao cấp” màu vàng.
  • - 01 cái kiềm bằng kim loại có bọc nhựa màu xanh lá cây- xám.
  • - 03 cờ lê mở ốc bằng kim loại màu trắng (01 cái hiệu Yeti 12, 01 cái hiệu Diamond Brand 10, 01 cái có quấn băng keo màu đen).
  • - 01 tua vít bằng kim loại cán được quấn bằng băng keo màu đen.
  • - 01 đèn pin đeo đầu hiệu Tinwa màu đen.
  • - 01 bình thuốc xịt muỗi bằng kim loại hiệu Fumakilla màu vàng – xanh dương.
  • - 01 cái kiềm cộng lực bằng kim loại sơn màu xanh lá cây, cán bọc nhựa màu đen.
  • - 01 cái xà beng bằng kim loại đen (01 đầu dẹp, 01 đầu móc nhổ đinh).
  • - 01 nón bảo hiểm màu xanh đen.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen model TA-1174 code23KIG74VN00 là điện thoại cá nhân của Nguyễn Văn M.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Realme C20 màu xanh - đen số sẽ ri5SZSEMAQSW7S4LS8.
  • - Tiền Việt Nam 12.240.000 đồng. Trong đó: 6.120.000 đồng của bà Vũ Thị H1 tự nguyện nộp lại liên quan đến Nguyễn Văn M dùng số tiền trộm cắp được để chuộc tài sản cá nhân, 6.120.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn M. Tất cả tài sản đồ vật trên đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức bảo quản theo quy định.
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60B4-691.10 là tài sản của chị Lê Minh H khi cho M mượn không biết M sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại xe cho chị H là phù hợp

Trách nhiệm dân sự: Bà Đỗ Thi Ngọc A3, ông Phạm Tài Vũ C1 không có yêu cầu bồi thường (Bút lục: 51,144). Bà Vũ Thị H1 yêu cầu Nguyễn Văn M bồi thường số tiền 6.120.000 đồng.

Đối với Lê Minh H, khi cho M mượn xe không biết M mượn xe dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T không xử lý trách nhiệm hình sự là đúng quy định pháp luật.

Đối với chị Vũ Thị H1 khi nhận tiền do M phạm tội đem đến chuộc xe máy, điện thoại và Giấy phép lái xe, chị H1 không biết đây là tiền do M phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T không xem xét xử lý trách nhiệm là đúng quy định pháp luật.

Cáo trạng số 207/CT-VKSTP Thủ Đức ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
  • - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị H1 trình bày: Tôi yêu cầu được nhận lại số tiền 6.120.000 đồng, ngoài ra tôi không có ý kiến yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn M tại phiên tòa phù hợp với nội dung lời khai của bị hại, phù hợp với dữ liệu hình ảnh trích xuất từ Camera đặt tại nhà 89 đường F, khu dân cư B, phường P, thành phố T; Bản ảnh; Biên bản thực nghiệm điều tra; Bản kết luận định giá tài sản số: 42-KV2/KLÐG-HĐĐGTS ngày 06/03/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 14/12/2023, tại nhà H đường F, khu dân cư B, phường P, thành phố T, bị cáo Nguyễn Văn M đã lợi dụng sự sơ hở của chị Đỗ Thị Ngọc A để lén lút chiếm đoạt 01 máy tính xách tay hiệu Microsoft Surface Pro 7 màu bạc trị giá 6.896.000 đồng, 01 bộ tai nghe Apple trị giá 2.930.000 đồng, 01 điện thoại Iphone 13 promax màu xanh rêu trị giá 12.933.000 đồng và 11.600.000 đồng. Là Nguyễn Văn M đã phạm tội Trộm cắp tài sản trong trường hợp chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Mặc dù còn trẻ tuổi nhưng Nguyễn Văn M đã có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử về hành vi trộm cắp tài sản vào năm 2020, hết án tha tù vào ngày 19/7/2020 về Tội Trộm cắp tài sản và chưa được xoá án tích thì đến ngày 14/12/2023 bị cáo Nguyễn Văn M lại tiếp tục tái phạm tội cũ, chiếm đoạt 01 máy tính xách tay hiệu M1 Pro 7 màu bạc có giá trị còn lại là 6.896.000 đồng, 01 bộ tai nghe Apple có giá trị còn lại là 2.930.000 đồng,, 01 điện thoại Iphone 13 promax màu xanh rêu có giá trị còn lại là 12.933.000 đồng và 11.600.000 đồng của chị Đỗ Thị Ngọc A.

Hành vi trộm tài sản do Nguyễn Văn M thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, góp phần gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Tuy nhiên cũng xét, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo đầy đủ thành khẩn có thái độ ăn năn hối lỗi, do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt áp dụng; điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo thì mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là có phần phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp thuận một phần.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Đỗ Thị Ngọc A, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Tài Vũ C1 không có yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự, do đó Tòa án không phải giải quyết về bồi thường dân sự cho người bị hại bà Đỗ Thị Ngọc A, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Tài Vũ C1 (BL 51, 143).

Đối với yêu cầu của bà Vũ Thị H1 được nhận lại số tiền 6.120.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền bị cáo thanh toán tiền cầm xe, điện thoại di động cho bà H1 và tại thời điểm thanh toán bà H1 cũng không biết đây là tiền do bị cáo phạm tội mà có. Vì vậy nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị H1.

[5] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • + Giao trả số tiền 6.120.000 đồng cho bà Vũ Thị H1; số tiền 6.120.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nghĩ nên giao trả cho bị cáo.
  • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Realme C20 màu xanh, M đã sử dụng để lên mạng Facebook bán các tài sản sau khi trộm cắp được.
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 túi vải màu đen; 01 cái kiềm bằng kim; 03 cờ lê mở ốc bằng kim loại; 01 tua vít bằng kim loại; 01 đèn pin đeo dầu hiệu Tinwa màu đen; 01 bình thuốc xịt muỗi bằng kim loại; 01 cái kiềm cộng lực bằng kim loại; 01 cái xà beng bằng kim loại đen; 01 nón bảo hiểm màu xanh đen. Do không còn giá trị sử dụng.
  • + Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60B4-691.10 là tài sản của chị Lê Minh H khi cho Mạnh mượn, chị H không biết M sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại xe cho chị H là phù hợp.

Đối với Lê Minh H, khi cho M mượn xe không biết M mượn xe dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T không xử lý trách nhiệm hình sự là đúng quy định pháp luật.

Đối với chị Vũ Thị H1 khi nhận tiền do M phạm tội đem đến chuộc xe máy, điện thoại và Giấy phép lái xe, chị H1 không biết đây là tiền do M phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T không xem xét xử lý trách nhiệm là đúng quy định pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội Trộm cắp tài sản.
    1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Nguyễn Văn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.
  2. Về trách nhiệm dân sự:
  3. Ghi nhận bị hại bà bà Đỗ Thị Ngọc A, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Tài Vũ C1 không có yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự.

    1. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.
      • + Giao trả số tiền 6.120.000 đồng cho bà Vũ Thị H1 và giao trả cho bị cáo số tiền 6.120.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.
      • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Realme C20 màu xanh.
      • + Tịch thu tiêu hủy: 01 túi vải màu đen; 01 cái kiềm bằng kim; 03 cờ lê mở ốc bằng kim loại; 01 tua vít bằng kim loại; 01 đèn pin đeo dầu hiệu Tinwa màu đen; 01 bình thuốc xịt muỗi bằng kim loại; 01 cái kiềm cộng lực bằng kim loại; 01 cái xà beng bằng kim loại đen; 01 nón bảo hiểm màu xanh đen.

      Tài sản tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, tiêu hủy và giao trả được ghi trong Phiếu nhập kho vật chứng số NK24/202C ngày 10/4/2024 và Giấy nộp tiền mặt ngày 08/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T.

  4. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP.HCM;
  • - Viện KSND thành phố Thủ Đức;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Bị hại;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Viết Nghiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 208/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - TP. HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 208/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger