|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 208/2024/HNGĐ-ST Ngày 09-7-2024. V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu văn Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Thị Thủy Phúc;
- Ông Nguyễn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Dư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Cẩm Lệ - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 378/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2023, về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1018/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 1511/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thiên D, sinh năm 1992. (Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/12/2023, tại bản khai ngày 18/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thiên D trình bày:
+ Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thiên D và anh Nguyễn Văn T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định vào ngày 02 tháng 3 năm 2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sống phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn nhưng vợ chồng không có biện pháp khắc phục. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do anh T cờ bạc về đánh đập chị D và không chí thú làm ăn, quan tâm xây dựng hạnh phúc gia đình và vợ chồng không còn chung sống, quan tâm, chăm sóc với nhau từ tháng 5 năm 2020 cho đến nay. Chị D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Toà giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
+ Về con chung: Có 02 người là cháu Nguyễn Hà Thanh N, sinh ngày 05/7/2011; cháu Nguyễn Hà Khánh A, sinh ngày 13/3/2016. Ly hôn chị D yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N, cháu V và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn T: Anh Nguyễn Văn T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại và chỗ ở hiện nay tại thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. Anh T biết được Toà án đang thụ lý, giải quyết vụ kiện ly hôn của vợ chồng; được Tòa án tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án, nhưng anh T không có văn bản trình bày ý kiến về việc Tòa án thụ lý vụ kiện gửi đến Tòa án; cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến và hoà giải.
- Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn chị D vắng mặt; tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị D giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu; bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đối với nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn được Tòa án tống đạt, niêm yết triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại các điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp “Ly hôn” và bị đơn cư trú tại huyện P, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định theo quy định của khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định về việc giải quyết vụ án:
+ Về hôn nhân: Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thiên D ly hôn anh Nguyễn Văn T.
+ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hà Thanh N, sinh ngày 05/7/2011; cháu Nguyễn Hà Khánh A, sinh ngày 13/3/2016 cho chị D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu nên không xét.
+ Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thiên D không yêu cầu giải quyết. Tuy nhiên, do không làm việc được với anh Nguyễn Văn T nên vấn đề này sẽ được xem xét trong một vụ án khác, nếu các bên đương sự có yêu cầu.
+ Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị Nguyễn Thị Thiên D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về sự vắng mặt của đương sự:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thiên D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Văn T được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào các điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.
[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Đây là vụ kiện “Ly hôn” và người bị kiện cư trú tại huyện P, tỉnh Bình Định. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Thiên D và anh Nguyễn Văn T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định vào ngày 02 tháng 3 năm 2011 là phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn số: 30/2011, ngày đăng ký ngày 02 tháng 3 năm 2011 của UBND xã M, huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho Nguyễn Thị Thiên D và Nguyễn Văn T (bản sao). Nên hôn nhân giữa chị D và anh T là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị D cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn gay gắt. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do anh T bài bạc về đánh đập chị D, không chí thú làm ăn, quan tâm xây dựng hạnh phúc gia đình và vợ chồng không còn chung sống, quan tâm chăm sóc với nhau từ tháng 5 năm 2020 cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng không chung sống với nhau chị D và anh T không có biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn của vợ chồng mà bỏ mặt hậu quả. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án cho anh T, nhưng anh T không có văn bản trình bày ý kiến đối với việc Tòa án thụ lý vụ án gửi đến Tòa án; không đến Tòa án để trình bày ý kiến, hoà giải và tại phiên tòa anh T vắng mặt. Điều này cho thấy, vợ chồng sống không hạnh phúc nhưng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Xét hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thiên D và anh Nguyễn Văn T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu có duy trì cũng không đem lại kết quả. Điều này phù hợp với thực tế và phù hợp với kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh T, chị D tại địa phương nơi anh T cư trú. Do đó, chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thiên D được ly hôn với anh Nguyễn Văn T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.2] Về con chung:
Có 02 người con chung là cháu Nguyễn Hà Thanh N, sinh ngày 05/7/2011; cháu Nguyễn Hà Khánh A, sinh ngày 13/3/2016. Lời trình bày của chị D phù hợp với 01 Giấy khai sinh cháu Nguyễn Hà Thanh N, sinh ngày 05/7/2011; cháu Nguyễn Hà Khánh A, sinh ngày 13/3/2016 ( Bản sao). Hiện nay các cháu đang sống với chị D.
Chị Nguyễn Thị Thiên D yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý cháu V.
Xét yêu cầu nuôi con của chị D là chính đáng và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và Gia đình. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị D là giao cháu Nguyễn Hà Thanh N, cháu Nguyễn Hà Khánh A cho chị D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý.
Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Thiên D không yêu cầu, nên không xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bên kia. Khi cần thiết chị D, anh T có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung:
Chị Nguyễn Thị Thiên D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do không làm việc được với anh Nguyễn Văn T nên vấn đề này sẽ được xem xét trong một vụ án khác, nếu các bên đương sự có yêu cầu.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị Nguyễn Thị Thiên D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị D đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003965 ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
[4] Về đề nghị của Kiểm sát viên:
hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thiên D.
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thiên D ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hà Thanh N, sinh ngày 05/7/2011; cháu Nguyễn Hà Khánh A, sinh ngày 13/3/2016 cho chị Nguyễn Thị Thiên D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
- Về tài sản chung: Không xem xét trong vụ án này. Khi nào chị Nguyễn Thị Thiên D và anh Nguyễn Văn T có tranh chấp, yêu cầu thì Tòa án thụ lý, giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thiên D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị D đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003965 ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thiên D và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Thiên D về việc không yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bên kia. Khi cần thiết chị D, anh T có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Văn Minh |
Bản án số 208/2024/HNGĐ-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 208/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dũ- Thành Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
