Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 208/2024/DSST

Ngày 08 tháng 8 năm 2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Hạnh

2. Bà Nguyễn Thị Thụy

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình:

Bà Bùi Mai Phương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 192/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXX – ST ngày 03 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 144/QÐST-HPT ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1). Trụ sở: 266 – B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc; Người được uỷ quyền: bà Phạm Thu H – Trưởng phòng G (theo Quyết định số 3525/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023 về việc uỷ quyền ký hợp đồng/thoả thuận, văn bản và tham gia tố tụng); Địa chỉ: Số B đường G, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội. Bà H có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Ông Trần Nhật V; Sinh năm 1982; HKTT: Số G, ngõ I phố N, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Ông V vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Ngân hàng Thương mại cổ phần S do người đại diện theo ủy quyền là bà Phạm Thu H trình bày:

Ông Trần Nhật V có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh G1 (nay là Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Đ - Phòng G), chi tiết như sau:

Ngày 23/5/2018, ông Trần Nhật V ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông Trần Nhật V, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng VS payWave Cre Gold 472075 - 1497 với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Ngày 09/01/2023, căn cứ lịch sử sử dụng thẻ của khách hàng, khách hàng được nâng hạn mức tự động lên 60.000.000 đồng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Trần Nhật V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 2.069.449.288 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Trần Nhật V đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 2.038.988.000 đồng.

Tính đến ngày 08/8/2024, ông Trần Nhật V còn nợ tổng số tiền 73.890.060 đồng, cụ thể như sau: Nợ gốc: 65.904.447 đồng; Nợ lãi quá hạn: 7.985.613 đồng.

Kể từ khi ông Vũ c thanh toán thẻ, Ngân hàng đã tìm nhiều cách liên hệ, làm việc nhưng ông Trần Nhật V vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Trần Nhật V vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng đã tạm khóa quyền sử dụng thẻ của ông Trần Nhật V cụ thể là thẻ VS payWave Cre Gold 472075 1497 vào ngày 06/5/2024.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông Trần Nhật V, yêu cầu ông Trần Nhật V có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để Ông Trần Nhật V trả nợ, tuy nhiên ông Trần Nhật V vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Vì vậy, Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết với các nội dung sau:

  • Buộc ông Trần Nhật V phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/8/2024 là 73.890.060 đồng, cụ thể như sau: Nợ gốc: 65.904.447 đồng; Nợ lãi quá hạn: 7.985.613 đồng;
  • Ông Trần Nhật V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 09/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng;
  • Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn ông Trần Nhật V vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn . Tuy nhiên, bị đơn vắng mặt không lý do, vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải cho nguyên đơn, bị đơn. Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Bị đơn vắng mặt không có lý do mặc dù đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán quy định tại Điều 48 BLTTDS, cụ thể:

  • - Về thẩm quyền: Theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ: Ông Trần Nhật V có hộ khẩu thường trú tại số G, ngõ I phố N, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Như vậy, việc Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý giải quyết vụ án đúng quy định về thẩm quyền.
  • - Về quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách các đương sự: Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ pháp luật theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tư cách người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại chương 14 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi về phiên tòa sơ thẩm:

  • + Chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • + Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án:

  • - Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự trong việc nộp đơn khởi kiện, cung cấp tài liệu chứng cứ, nộp tạm ứng án phí và trình bày yêu cầu của mình. Chấp hành đúng nội quy phiên tòa theo Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S:

Buộc ông Trần Nhật V phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/8/2024 là 73.890.060 đồng, cụ thể như sau: Nợ gốc: 65.904.447 đồng; Nợ lãi quá hạn: 7.985.613 đồng và khoản lãi phát sinh từ ngày 09/8/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ gốc theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng ngày 23/5/2018 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng TMCP S.

Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Bị đơn - ông Trần Nhật V phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định pháp luật.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Trần Nhật V vắng mặt lần thứ hai liên tiếp không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành tố tụng giải quyết và xét xử vụ án vắng mặt ông Trần Nhật V.

Đây là vụ án yêu cầu thanh toán tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng ngày 23/5/2018 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng TMCP S và ông Trần Nhật V, mục đích mở thẻ tín dụng: tiêu dùng cá nhân. Do vậy, xác định đây là tranh chấp dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Trần Nhật V đăng ký thường trú tại số G, ngõ I phố N, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Do ông Trần Nhật V vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng đã ký ngày 23/5/2018 nên Ngân hàng đã khởi kiện ông V đến Tòa án nhân dân quận Ba Đình, đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông V phải thanh toán trả Ngân hàng toàn bộ khoản nợ gốc, lãi và lãi phát sinh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.

Ngày 23/5/2018, ông Trần Nhật V có ký với Ngân hàng TMCP S hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng– các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Trần Nhật V, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng VS payWave Cre Gold 472075 - 1497 với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Ngày 09/01/2023, căn cứ lịch sử sử dụng thẻ của ông V, ông V được nâng hạn mức tự động lên 60.000.000 đồng. Do ông V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng sang nợ quá hạn từ ngày 22/5/2024. Ngày 23/5/2024, Tòa án nhân dân quận Ba Đình đã nhận được đơn khởi kiện của ngân hàng đối với ông V. Căn cứ Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án này không thuộc trường hợp phải áp dụng thời hiệu khởi kiện.

Quá trình giải quyết vụ án, trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không xem xét.

[2]. Về nội dung:

Ngày 23/5/2018, ông Trần Nhật V có ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng– các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Trần Nhật V, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng VS payWave Cre Gold 472075 - 1497 với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Biện pháp đảm bảo cho khoản vay là Tín chấp. Ngày 09/01/2023, căn cứ lịch sử sử dụng thẻ của khách hàng, ông V được nâng hạn mức tự động lên 60.000.000 đồng.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Trần Nhật V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 2.069.449.288 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ - từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông Trần Nhật V đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 2.038.988.000 đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy, hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/5/2018 được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật Dân sự. Do đó xác định đây là hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành đối với các bên.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng trả góp, ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên theo Điều 18 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng TMCP S quy định:

“18.1 Chủ thẻ đồng ý là chủ thẻ đã nhận được thẻ khi thẻ được kích hoạt và/hoặc phát sinh giao dịch. Chủ thẻ, gồm chủ thẻ chính và tất cả Chủ thẻ phụ, chịu trách nhiệm liên đới đối với việc thanh toán tất cả các dư nợ cho đến khi thanh toán đầy đủ trong tất cả các trường hợp, bao gồm cả trường hợp gia hạn thẻ, thay thế thẻ, chấm dứt sử dụng thẻ...cho S1 mà không cần có bằng chứng, hóa đơn được ký hay chứng từ khác,

18.2 Chủ thẻ có nghĩa vụ thanh toán dư nợ đầy đủ và đúng hạn theo yêu cầu của S1 và việc thanh toán này sẽ không bị gián đoạn bởi bất kỳ lý do gì. Trường hợp chủ thẻ được S1 cấp tín dụng dưới bất kỳ hình thức nào (tại bất kỳ thời điểm nào) và có tài sản bảo đảm thì tài sản đó đương nhiên được dùng để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng này. Việc chủ thẻ bị chấm dứt cấp tín dụng tại S1 vì bất cứ lý do gì có thể dẫn đến việc S1 chấm dứt sử dụng thẻ của chủ thẻ và/hoặc xử lý tài sản đảm bảo”.

Nay Ngân hàng khởi kiện buộc ông V phải thanh toán cho ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 08/8/2024 là 73.890.060 đồng, cụ thể như sau: Nợ gốc: 65.904.447 đồng; Nợ lãi quá hạn: 7.985.613 đồng và khoản lãi phát sinh từ ngày 09/8/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ gốc theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng ngày 23/5/2018.

Đối với yêu cầu tính lãi quá hạn của Ngân hàng TMCP S, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua đối chiếu nhận thấy cách tính lãi, phí chậm thanh toán của các bên theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/5/2018 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S phù hợp quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Bị đơn ông Trần Nhật V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;

- Vì các căn cứ nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 Luật tổ chức tín dụng (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2010).

Căn cứ Điều 345; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S:

  • - Xác nhận ông Trần Nhật V còn nợ Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc và lãi theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/5/2018 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S với tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/8/2024 là 73.890.060 (Bảy mươi ba triệu, tám trăm chín mươi nghìn, không trăm sáu mươi) đồng, cụ thể như sau: Nợ gốc: 65.904.447 (Sáu mươi lăm triệu, chín trăm lẻ bốn nghìn, bốn trăm bốn bảy) đồng, nợ lãi quá hạn: 7.985.613 (Bảy triệu, chín trăm tám mươi lăm nghìn, sáu trăm mười ba) đồng;
  • - Buộc ông Trần Nhật V thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP S với tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/8/2024 là: 73.890.060 (Bảy mươi ba triệu, tám trăm chín mươi nghìn, không trăm sáu mươi) đồng, cụ thể như sau: Nợ gốc: 65.904.447 (Sáu mươi lăm triệu, chín trăm lẻ bốn nghìn, bốn trăm bốn bảy) đồng, nợ lãi quá hạn: 7.985.613 (Bảy triệu, chín trăm tám mươi lăm nghìn, sáu trăm mười ba) đồng;

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, ông Trần Nhật V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/5/2018 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S.

Trường hợp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không xem xét. Nếu sau này giữa các bên có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông Trần Nhật V phải chịu 3.694.503 (Ba triệu, sáu trăm chín mươi tư nghìn, năm trăm linh ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm (chưa nộp).
  • - Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.688.000 (Một triệu, sáu trăm tám mươi tám nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0030182 ngày 12/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Bị đơn ông Trần Nhật V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình;
  • - Chi cục THA dân sự quận Ba Đình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 208/2024/DSST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 208/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger