|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 208/2025/HS-PT
Ngày: 30/5/2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.
Các Thẩm phán:
- Ông Phan Thanh Nguyễn.
- Bà Đoàn Thị Hương Giang
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần tại trại tam giam T30-Công an Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 141/2025/TLPT-HS ngày 24/4/2025 đối với bị cáo Lê Tấn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Tấn T
(tên gọi khác: Không có), sinh năm 1969 tại tỉnh N; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không có; Nơi ở hiện tại: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Trình độ học vấn: 04/12; Con ông: Lê Tấn P (chết) và bà: Trương Thị L (chết); (Hoàn cảnh gia đình: Bị cáo khai có vợ: Nguyễn Thị Kim L1 (sinh năm 1973), 01 con sinh năm 1999); Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/7/2024. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 50 phút ngày 29/7/2024, tại trước số 7 S, Phường MH, Quận M, Tp.Hồ Chí Minh, tổ tuần tra 3A Công an Quận M, TP. Hồ Chí Minh phối hợp Công an Phường MH, Quận M, tuần tra phát hiện các đối tượng Lê Tấn T và Thao Tr có biểu hiện nghi vấn, tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, tổ tuần tra phát hiện tạm giữ trong túi quần trước bên trái của T đang mặc có 12 gói nylon chứa tinh thể. T khai nhận số tinh thể là ma túy tổng hợp của T cất giữ, để bán kiếm lời. Sau đó, Tổ tuần tra đã giao T cùng vật chứng cho Công an Phường MH, Quận M lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận M xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận M đã trưng cầu giám định tinh thể không màu thu giữ của Lê Tấn T, tại Kết luận giám định số 9006/KL-KTHS ngày 05/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh: “Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 2,7183g, loại Methamphetamine".
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận M, bị can Lê Tấn T khai nhận như sau: Khoảng 21 giờ ngày 28/7/2024, T liên lạc với một người đàn ông tên T1 (không rõ lai lịch địa chỉ) có điện thoại 0908791XXX để mua 1.500.000 đồng ma tuý đá. Sau đó, T1 điều khiển xe môtô đến trước số 7 S, Phường MH, Quận M gặp T giao ma tuý và T trả 1.500.000 đồng cho T1. Sau đó, T phân chia tại truớc số 7 S, Phường MH, Quận M thành 13 gói nhỏ để bán cho người nghiện kiếm lời. Đến khoảng 22 giờ ngày 28/7/2024, có một người thanh niên tên Thao Tr điều khiển xe môtô đến gặp T hỏi mua 01 gói ma tuý đá giá 200.000 đồng. T đã bán 01 gói ma tuý cho Tr. Đến khoảng 01 giờ 50 phút ngày 29/7/2024, Tr tiếp tục điều khiển xe môtô quay lại chỗ T và hỏi mua 01 gói ma tuý đá giá 200.000 đồng. T chưa kịp nhận tiền, giao ma túy thì bị phát hiện bắt giữ như trên. T khai quen biết T1 được khoảng 01 tháng do bạn bè ngoài xã hội giới thiệu và cho T số điện thoại của T1 để liên lạc trực tiếp cho T1. T bắt đầu mua ma tuý của T1 khoảng 10 ngày và T bán hết ma tuý đá sẽ gọi cho T1 để giao ma tuý cho T và T chia nhỏ ma tuý bán lại cho người nghiện kiếm lời, số tiền T đã thu lợi bất chính được 30.000 đồng.
Thao Tr khai, quen và biết T bán ma túy là do bạn bè ngoài xã hội giới thiệu. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 01 giờ 50 phút ngày 29/7/2024, Tr điều khiển xe môtô biển số: 72E1-782.XX đến trước số 7 S, Phường MH, Quận M, gặp Lê Tấn T mua 01 gói ma túy tổng hợp giá 200.000 đồng. Tr chưa kịp trả tiền và nhận ma túy thì bị Công an Quận M kiểm tra phát hiện. Trước đó, Tr đã mua ma túy của T được 01 lần vào lúc 22 giờ ngày 28/7/2024 mua 01 gói ma túy giá 200.000 đồng, sau khi mua ma túy xong Tr điều khiển xe về nhà thì bị rơi mất nên khoảng 01 giờ 50 phút ngày 29/7/2024, Tr quay lại mua 01 gói ma túy đá của T chưa kịp trả tiền và nhận ma túy thì bị kiểm tra bắt giữ.
Vật chứng, đồ vật thu giữ:
- 01 gói đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Út L2 và cán bộ điều tra Trần Quang T2, số vụ 2758/XX; bên trong chứa 2,4256g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, (mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 điện thoại đi động hiệu Oppo có số thuê bao 0988307XXX - bị can sử dụng vào việc mua bán ma túy.
- Số tiền 200.000 đồng, thu giữ của T bán ma túy cho Tr trước đó.
Viện kiểm sát nhân dân Quận M có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận M chờ xử lý.
- 01 xe môtô biển số: 59H1-540.XX, số khung: RLHJF4618EZ11XXX, số máy: 46E66039XXX, thu giữ của bị can T. Kết quả giám định số máy, số khung của xe không thay đổi; Xác minh xe do Hộ kinh doanh Vận tải Phan Hà N, Phường N, Quận MN, đứng tên chủ sở hữu. Ông Khai vào ngày 18/5/2024 đã bán chiếc xe cho anh Nguyễn Thành B, HKTT 1/B Hòa H, Phường MB, Quận M và có công chứng. Anh B khai khoảng 18 giờ ngày 28/7/2024, B đi làm về thì cho cha ruột của anh B, là bị can Lê Tấn T, mượn xe để chạy xe ôm. Bị can T sử dụng đi bán ma túy, anh B hoàn toàn không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận M đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe môtô biển số: 59H1-540.XX cho anh Nguyễn Thành B.
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi - là tài sản cá nhân của đối tượng Thao Tr, không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận M đã xử lý vật chứng trả cho Thao Tr.
- 01 xe môtô biển số: 72E1-782.XX, số khung: MH1KF4121LK115XXX, số máy: KF41E2119XXX, thu giữ của Thao Tr. Kết quả giám định số máy, số khung của xe không thay đổi; Xác minh xe do bà Nguyễn Phước Mỹ D, HKTT: PT, Mỹ X, PM, tỉnh B, đứng tên chủ sở hữu. Bà D khai, khoảng tháng 01/2024 cho con trai ruột, là Trần Văn Kh, mượn chiếc xe trên để làm phương tiện đi làm. Anh Kh khai, ngày 28/7/2024 cho Thao Tr, là nhân viên làm việc chung với Kh tại khách sạn Y, số X Lê Hồng P, Phường MH, Quận M, mượn chiếc xe môtô biển số: 72E1-782.XX để đi mua đồ ăn tối và Kh đồng ý. Tr điều khiển xe đi mua ma túy, Kh hoàn toàn không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận M đã xử lý vật chứng trả cho bà Nguyễn Phước Mỹ D.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Lê Tấn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2024.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/3/2025, bị cáo Lê Tấn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
Bị cáo Lê Tấn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu:
Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên bị cáo Lê Tấn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Nhận thấy mức án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên không có căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận M, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận M, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra bị cáo Lê Tấn T và đối tượng Thao Tr khai nhận: vào lúc 22 giờ ngày 28/7/2024 bị cáo đã bán cho Tr 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Khoảng giờ 01 giờ 50 phút ngày 29/7/2024, Tr quay lại mua của bị cáo T thêm một gói ma túy. Bị cáo báo giá 200.000 đồng nhưng Tr chưa kịp giao tiền, bị cáo chưa kịp giao ma túy thì bị kiểm tra bắt giữ.
Hành vi của bị cáo Lê Tấn T đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới để xem xét. Mức án 07 năm 06 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tấn T; Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Lê Tấn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2024.
Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên |
Bản án số 208/2025/HS-PT ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 208/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Tấn T "Mua bán trái phép chất ma túy"
