|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 208/2025/DS-PT
Ngày: 27/11/2025
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị An và bà Nguyễn Thị Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Văn Chiến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Ông Nông Văn Đổi, Kiểm sát viên.
Ngày 27/11/2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 104/2025/DS-PT ngày 02/10/2025 về việc kiện Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên có kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2025/QĐ-PT ngày 30/01/2025; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Triệu Đức T, sinh năm 1952; địa chỉ: xóm K, xã T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Dương Thị H, Luật sư trợ giúp pháp lý - Trung tâm T5 tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
Bị đơn: Anh Triệu Tiến T1, sinh năm 1979; địa chỉ: xóm K, xã T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Phạm Ngọc K; Luật sư trợ giúp pháp lý - Trung tâm T5 tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hà Thị Ư, sinh năm 1955; có mặt;
- Ông Triệu Đức P, sinh năm 1960; có mặt;
- Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1960; có đơn đề nghị xử vắng mặt
- Chị Đặng Thị T2, sinh năm 1983; có mặt;
- Anh Triệu Tiến C, sinh năm 1979; có đơn đề nghị xử vắng mặt
- Chị Đặng Thị K1, sinh năm 1981; vắng mặt
- Chị Triệu Thị T3, sinh năm 1999; vắng mặt
- Chị Triệu Thị N, sinh năm 2006; vắng mặt
Cùng địa chỉ: xóm K, xã T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Triệu Đức T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị Ư trình bày:
Phần diện tích đất tranh chấp với anh T1 hiện nay, gia đình ông T khai phá từ năm 1980 để trồng lúa nương từ năm 1980 đến năm 1982 do điều kiện gia đình khó khăn nên không sử dụng trồng cây gì, nhưng gia đình ông T vẫn tiếp tục phát để khoanh nuôi, bảo vệ.
Khoảng năm 1993, Nhà nước giao đất, giao rừng, ông T làm đơn xin giao đất và được cấp sổ bìa xanh với lô đất số 14, thuộc tiểu khu C, diện tích 4,37 ha. Sau khi được cấp sổ bìa xanh, gia đình ông T vẫn trông coi và tiếp tục khoanh nuôi bảo vệ, trồng lúa nương. Việc viết đè hoặc chỉnh sửa phần số tiểu khu trong sổ bìa xanh thì ông bà không biết. Năm 2000, gia đình ông Triệu Đức P lên phát khu rừng của ông T, ông T đã có ý kiến yêu cầu ông P không được phát, nhưng ông P không nghe, bà L vợ ông P cho rằng đất của gia đình bà L. Sau đó gia đình ông P trồng chè lên diện tích trên, ông T yêu cầu ông P di chuyển hết cây chè đi nhưng ông P không nhất trí và tiếp tục trồng thêm cây bưởi, hiện tại đã phát hết số cây chè.
Ông T đã yêu cầu xóm, xã về giải quyết, khẳng định đây là đất của gia đình ông T, nhưng ông P vẫn tiếp tục sử dụng thửa đất trên. Năm 2020, anh Triệu Tiến T1 là con trai ông P tiếp tục phát và trồng cây bồ đề, năm 2021 trồng thêm cây quế.
Ông T khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Triệu Tiến T1 trả lại quyền sử dụng diện tích 4,37 ha đất, thuộc lô số 14, khoảnh F, tiểu khu C, bản đồ giao đất rừng năm 1993 xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Ông T cung cấp 01 hồ sơ giao đất giao rừng năm 1993 cho hộ ông Triệu Đức T, gồm: Quyết định giao đất giao rừng số 782-QĐ/UB ngày 28/8/1993 của Ủy ban nhân dân huyện V.
Bị đơn anh Triệu Tiến T1 trình bày:
Nguồn gốc thửa đất ông T tranh chấp với anh do ông P, bà L là bố mẹ đẻ anh khai phá từ năm 1986 để canh tác, trồng lúa nương và sắn. Đến năm 2000, ông P giao lại khu đất trên cho vợ chồng anh trực tiếp quản lý, sử dụng. Tháng 9/2000, anh T1 trồng chè, đến năm 2021 trồng khoảng 200 cây quế và 300 cây bồ đề trên đất chè, năm 2022 chặt phá chè, hiện tại trên đất có cây quế, bồ đề, và còn các gốc cây chè.
Thửa đất này gia đình anh T1 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, vợ chồng anh T1 vẫn canh tác, sử dụng ổn định từ năm 2000 cho đến nay, chưa từng có sự việc tranh chấp. Ông T, bà Ư khởi kiện yêu cầu anh trả lại diện tích đất, anh T1 không nhất trí.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông Triệu Đức P, bà Hoàng Thị L, chị Đặng Thị T2 trình bày:
Ông P không nhất trí với ý kiến của ông T và bà Ư; nguồn gốc đất tranh chấp do vợ chồng ông bà khai phá từ năm 1986, sau khi khai phá thì trồng sắn, trồng mố (trồng lúa nương); nhưng không liên tục, tuy nhiên gia đình ông vẫn tiếp tục bảo vệ, quản lý khu đất. Năm 2000, vợ chồng ông P cho vợ chồng con trai Triệu Tiến T1 canh tác quản lý thì gia đình ông T cũng không có ý kiến gì.
Theo kết quả đo vẽ phần đất tranh chấp có một phần thuộc thửa đất số 177, tờ bản đồ địa chính số 21 xã L, ông P là người quản lý sử dụng, hiện cho anh Triệu Tiến T1 quản lý, sử dụng, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng sổ mục kê đất đai của xã L đã thể hiện ông P là người sử dụng đất. Đến đầu năm 2024, ông T, bà Ư mới tranh chấp đất với gia đình ông P, dẫn đến căng thẳng giữa hai bên gia đình. Ông P đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Anh Triệu Tiến C trình bày:
Anh C là con của ông Triệu Đức T và bà Hà Thị Ư, từ khi còn nhỏ anh đã thấy ông T, bà Ư canh tác trên phần đất tranh chấp, thời điểm ông bà chưa chia đất cho các con thì ông bà tự canh tác, anh không cùng canh tác sản xuất trên phần đất đó. Khi anh C đã trưởng thành thì anh đi làm thuê nên không để ý ai là người quản lý sử dụng đất. Bản thân anh C được ông T, bà Ư chia cho 03 sào ruộng trồng lúa ở vị trí khác nhưng chưa làm thủ tục tách sổ, sang tên quyền sử dụng đất. Thửa đất số 182, tờ bản đồ địa chính số 21 xã L, sổ mục kê người sử dụng đất mang tên anh C, nhưng thực tế là của ông T bà Ư, hiện tại trên đất có một số cây keo, ngoài ra không có tài sản gì khác. Bản thân anh C không biết nguyên nhân, nội dung sự việc tranh chấp và cũng không liên quan đến tranh chấp giữa các bên. Anh C đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật, không có ý kiến đề nghị gì khác.
Chị Đặng Thị K1 trình bày:
Chị K1 là vợ của anh Triệu Tiến T4, là con dâu của ông T và bà Ư. Chị K1, anh T4 kết hôn năm 1997, có 02 con là Triệu Thị T3, sinh năm 1999 và Triệu Thị N sinh năm 2006. Anh T4 đã chết năm 2018. Chị không biết nguồn gốc đất tranh chấp giữa ông T, bà Ư và gia đình anh T1 như thế nào, cũng không biết trước đây ai là người sử dụng đất. Từ khi chị về làm dâu năm 1997 đã thấy gia đình ông P, anh T1 sử dụng, canh tác khu đất, chưa từng thấy ông T, bà Ư canh tác sử dụng đất. Từ khoảng cuối năm 2023 trở về trước hai bên gia đình vẫn bình thường, khu đất gia đình anh T1 vẫn trồng chè, sau đó trồng thêm cây quế, chưa có mâu thuẫn, tranh chấp đất đai. Theo kết quả đo vẽ, phần đất tranh chấp có một phần diện tích thuộc Thửa số 142, tờ bản đồ địa chính số 21 xã L, sổ mục kê mang tên Triệu Tiến T4 là chồng chị, chị không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Chị Triệu Thị T3, Triệu Thị N trình bày: các chị là con của ông Triệu Tiến T4 và bà Đặng Thị K1, không biết và không liên quan đến việc tranh chấp đất đai giữa ông bà nội của các chị với gia đình ông T1, thống nhất ý kiến với bà Đặng Thị K1, không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 83/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Triệu Đức T đối với bị đơn anh Triệu Tiến T1 về việc trả lại quyền sử dụng diện tích 4,37 ha đất, thuộc lô số 14, khoảnh F, tiểu khu C, bản đồ giao đất rừng năm 1993 xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Triệu Đức T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền 11.000.000 đồng (đã thực hiện xong).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 28/7/2025, nguyên đơn ông Triệu Đức T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm. Nội dung kháng cáo ông T cho rằng: Phần diện tích đất tranh chấp với anh T1, gia đình ông được giao đất giao rừng thuộc lô 356 A, khoảnh 6, việc sửa thành lô 347 ông không biết. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm buộc anh T1 trả lại diện tích đất 4,37 ha thuộc lô 14 khoảnh 6, tiểu khu C cho gia đình ông T.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn ông T giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, các đương sự giữ nguyên quan điểm trình bày, tranh luận tại Toà án cấp sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:
Gia đình nguyên đơn đã được UBND huyện V giao đất, giao rừng năm 1993, diện tích 4,37 ha tại tiểu khu A, lô C. Phần diện tích đất anh T1 sử dụng hiện tại là 2.159,8 m2 nằm trong diện tích 4,37 ha. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc anh T1 phải trả lại 2.159,8 m2 đất cho gia đình ông T.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời khai của người làm chứng, căn cứ vào kết quả đo vẽ, thẩm định tại chỗ và kết quả cung cấp của Ủy ban nhân dân huyện V thì phần diện tích đất 4,37 ha không nằm ở vị trí tranh chấp. Không có hồ sơ giao đất giao rừng tại lô 14 tiểu khu C cấp cho nguyên đơn, trong sổ theo dõi giao đất giao rừng không có thể hiện lô 13, khoảnh 6, tiểu khu C. Gia đình bị đơn đã quản lý sử dụng thửa đất ổn định từ năm 2000 cho đến nay, có tên trong sổ mục kê lưu tại UBND xã, đề nghị Hội đồng xét xử bác đơn kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kê khai diện tích đất tại thửa 178 tờ bản đồ số 21 để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm:
Thẩm phán chủ tọa phiên toà, Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Triệu Đức T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Nguyên đơn ông Triệu Đức T kháng cáo trong hạn luật định, được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện, nội dung kháng cáo của nguyên đơn, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử thấy:
[2] Về vị trí, diện tích đất tranh chấp:
Căn cứ Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/4/2025 của Toà án cấp sơ thẩm, vị trí đất tranh chấp giữa ông T với anh T1 có diện tích 2.159,8 m², theo Bản đồ giao đất rừng năm 1993 xã L thuộc lô A, khoảnh 6, tiểu khu C; theo Bản đồ địa chính năm 2011 xã L, thuộc tờ bản đồ số 21, gồm nhiều thửa, trong đó: thuộc thửa 84: 2,2 m², thửa 142: 157,7 m², thửa 177: 216,3 m², thửa 178: 1.737,7 m², thửa 182: 43,5 m² và thuộc đất giao thông: 2,4 m². Diện tích đất tranh chấp chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[3] Hồ sơ giao đất giao rừng do ông Triệu Đức T cung cấp thể hiện: Ngày 28/8/1993, UBND huyện V, tỉnh Bắc Thái ban hành Quyết định giao đất giao rừng số 782-QĐ/UB cho ông Triệu Đức T xóm K, xã L 6,15 ha đất, thuộc lô 14, tiểu khu C, khoảnh 6, diện tích 4,37 ha và lô 11, tiểu khu C, khoảnh 2, diện tích 1,78 ha. Số tiểu khu C bị sửa chữa và viết đè lên; Biên bản bàn giao đất để trồng rừng ghi là Tiểu khu C khoảnh 6 và khoảnh 2.
[4] Công văn số 1713/UBND-TNMT ngày 13/5/2025 của UBND huyện V trả lời Toà án nhân dân huyện Võ Nhai có nội dung:
Tại sổ mục kê đất đai xã L: Thửa số 84, tờ bản đồ số 21, tên người sử dụng, quản lý là hộ ông Triệu Đức T; Thửa số 142, tờ bản đồ số 21, tên người sử dụng, quản lý là hộ ông Triệu Tiến T4; Thửa số 177, tờ bản đồ số 21, tên người sử dụng, quản lý là hộ ông Triệu Đức P; Thửa số 178, tờ bản đồ số 21, tên người sử dụng, quản lý là hộ ông Triệu Tiến T1; Thửa số 182, tờ bản đồ số 21, tên người sử dụng, quản lý là hộ ông Triệu Tiến C.
Hồ sơ lưu trữ về giao đất, giao rừng xã L, huyện V hiện đang quản lý tại Hạt Kiểm lâm không có hồ sơ giao đất giao rừng tại lô 14, tiểu khu C theo Quyết định giao đất giao rừng số 782-QĐ/UB ngày 28/8/1993 cấp cho ông Triệu Đức T xóm K, xã L. Trong sổ theo dõi giao đất, giao rừng không có lô 13, khoảnh 6, tiểu khu C xã L cũng như không có hồ sơ kèm theo.
[5] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:
Ông T, bà Ư xác định phần diện tích đất tranh chấp trước đây là rừng tự nhiên, do ông bà khai phá từ khoảng năm 1980, 02 năm đầu ông bà trồng lúa nương, năm 1982 do gia đình khó khăn nên không canh tác nhưng vẫn bảo vệ, khoanh nuôi khu đất. Năm 2000, gia đình ông P lên phát khu rừng thì ông bà đã có ý kiến yêu cầu ông P không được phát vì đất của gia đình ông bà nhưng ông P bà L không nhất trí, vẫn tiếp tục canh tác, trồng cấy trên đất. Đến đầu năm 2024 ông T, bà Ư mới khởi kiện đòi đất.
Bị đơn anh T1 và người liên quan ông P, bà L xác định phần đất do ông P khai phá từ năm 1986 để trồng lúa nương, trồng sắn, đến năm 2000 vợ chồng ông P giao lại cho vợ chồng anh T1 canh tác, sử dụng. Gia đình anh T1 đã quản lý, sử dụng ổn định từ năm 2000 cho đến nay, tên anh T1, ông P đã được thể hiện tại sổ mục kê đất đai của xã L. Hiện trạng trên đất có các gốc chè, cây quế, cây bồ đề và một số cây khác đều do gia đình anh T1 trồng.
Chị Đặng Thị K1 là con dâu ông T, bà Ư xác định: từ năm 1997 khi lấy anh Triệu Tiến T4 về làm dâu nhà ông T, không thấy ông T, bà Ư canh tác trên phần đất đang tranh chấp, không thấy hai bên gia đình có tranh chấp đất đai.
Đại diện xóm K xác định: phần đất đang tranh chấp do gia đình ông Triệu Đức P quản lý, canh tác sử dụng từ nhiều năm trước, sau đó anh Triệu Tiến T1 sử dụng, canh tác, còn việc ai là người được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì xóm không biết.
Như vậy, lời khai của ông T, bà Ư chỉ sử dụng đất để trồng Lúa nương từ năm 1980 đến năm 1982, sau đó không sử dụng để canh tác, trồng cấy gì trên đất.
[6] Ông T khởi kiện yêu cầu anh T1 trả lại diện tích đất 2.159,8 m² vì cho rằng phần diện tích đất này nằm trong 4,37 ha, thuộc lô 14, khoảnh 6, tiểu khu C theo Quyết định giao đất giao rừng số 782-QĐ/UB ngày 28/8/1993 của UBND huyện V, tỉnh Bắc Thái. Tuy nhiên, hiện trạng phần đất tranh chấp thuộc lô 13, khoảnh 6, tiểu khu C, không thuộc lô 14. Trong Quyết định giao đất giao rừng cho gia đình ông T ghi tiểu khu C, nhưng trong Biên bản giao đất để trồng rừng lại ghi là tiểu khu C A là không thống nhất. Bên cạnh đó UBND huyện V xác định không có hồ sơ giao đất giao rừng tại lô 14, tiểu khu C theo Quyết định giao đất giao rừng số 782-QĐ/UB ngày 28/8/1993 cấp cho ông Triệu Đức T xóm K, xã L. Nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn cho rằng diện tích đất tranh chấp anh T1 đang sử dụng 2.159,8 m2 nằm trong diện tích 4,37 ha theo quyết định giao đất, giao rừng của UBND huyện V, tỉnh Bắc Thái năm 1993, nhưng nếu cộng tất cả các diện tích xung quanh gia đình ông T và gia đình ông P, anh T1 sử dụng cũng không đủ diện tích 4,37 ha như ông T khai. Ông T, bà Ư cho rằng diện tích 2.159,8 m2 anh T1 đang sử dụng có tranh chấp nằm trong diện tích 4,37 ha theo quyết định giao đất giao rừng của UBND huyện V năm 1993 cho gia đình ông T là không có căn cứ.
[7] Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Tuy nhiên, sau khi xem xét thẩm định tại chỗ, xác định diện tích đất tranh chấp thuộc các thửa đất theo bản đồ địa chính có tổng diện tích 2.159,8 m2, Toà án cấp sơ thẩm quyết định không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Triệu Đức T đối với bị đơn anh Triệu Tiến T1 về việc trả lại diện tích 4,37 ha đất, thuộc lô số 14, khoảnh F, tiểu khu C, bản đồ giao đất rừng năm 1993 xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên là không chính xác, cần rút kinh nghiệm.
[8] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Triệu Đức T; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5- Thái Nguyên.
[8] Án phí phúc thẩm: Ông Triệu Đức T là người cao tuổi, nên miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông T.
Từ những phân tích nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Triệu Đức T; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5- Thái Nguyên.
- Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Triệu Đức T.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Quý Sửu |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
|
Lý Thị Thuý |
Vũ Thị An |
Hoàng Quý Sửu |
Bản án số 208/2025/DS-PT ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 208/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Triệu Đức T - Triệu Tiến T1
