Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2024/HSPT

Ngày: 19/11/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Anh Đức;

Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Quân;

Ông Lê Ngọc Lâm.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Thiều Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 267/2024/HSPT ngày 01/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/2024/QĐXXPT-HS ngày 04/11/2024 đối với bị cáo Phạm Thị H, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 61/2024/HSST ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị cáo kháng cáo: Phạm Thị H, sinh năm 1976, tại xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố E thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Thắng C (Đã chết); Con bà: Phạm Thị B, sinh năm 1945; Gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ 4; Chồng: Mai Văn L, sinh năm 1964; Có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Đỗ Thị H1, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Khu F thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Những người làm chứng:

  • Chị Lê Thị V, sinh năm 1982; vắng mặt.
  • Chị Lê Thị D, sinh năm 1973; vắng mặt.

(Cùng địa chỉ: Khu phố E thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa).

  • Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1978; vắng mặt.

1

Địa chỉ: Khu phố D thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  • Chị Lương Thị N, sinh năm 1976; vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố A thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Thị H là giáo viên bộ môn Văn - Sử - Địa và kiêm tổ phó bộ môn xã hội; Ủy viên kiểm tra Công đoàn; Thủ quỹ Công đoàn trường THCS T1, huyện T. Trong quá trình công tác vào năm 2021, H cho rằng chị Đỗ Thị H1 là Hiệu trưởng trường THCS T1 có những vi phạm trong công tác thu chi tài chính để thu lợi. H nói với các giáo viên trong trường về việc bản thân có một “người em” làm thanh tra Chính phủ sẽ hướng dẫn H làm thủ tục tố cáo những sai phạm của chị H1 (thực tế H không có người thân quen nào công tác tại Thanh tra Chính phủ). H nhiều lần gặp và nói chị H1 có nhiều sai phạm trong công tác thu chi tài chính của trường. H nói sẽ nhờ “người em” làm thanh tra Chính phủ hướng dẫn làm đơn tố cáo chị H1 và tác động để tiến hành thanh tra, kiểm tra các mặt công tác của nhà trường. Nghe H nói vậy, chị H1 lo sợ bị thanh tra, kiểm tra trường sẽ gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của bản thân, gia đình và nhà trường nên đã nhiều lần gặp trực tiếp xin H không làm đơn tố cáo, không nhờ “người em” tác động thanh tra, kiểm tra nhà trường nữa. Nhận thấy chị H1 lo sợ và phải xin mình nên H đã yêu cầu chị H1 đưa số tiền 150.000.000₫ (Một trăm năm mươi triệu đồng) để đưa cho “người em” thì mới không làm đơn tố cáo và tác động thanh tra nữa.

Do lo sợ bị tố cáo và thanh tra nên vào tháng 7/2021, chị H1 đã chuẩn bị số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng) và rủ chị Lê Thị V là kế toán của trường cùng đến nhà H đưa tiền. Chị V nhìn thấy chị H1 đưa tiền cho H nhưng không biết số tiền cụ thể, không biết lý do đưa tiền. Số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng) này H đã sử dụng và chi tiêu cá nhân hết.

Sau đó vì muốn chị H1 tin là mình có “người em” làm bên thanh tra Chính phủ và bản thân H chỉ muốn giúp, không phải tự đặt ra lý do đó để chiếm đoạt tiền nên đầu tháng 01/2022, H tiếp tục gặp chị H1 và nói: “người em” yêu cầu chị H1 cũng phải cảm ơn riêng cho H số tiền như của “người em”. Tuy nhiên, H không nhận nhưng H thỏa thuận với chị H1 về việc chị H1 đưa cho H số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) để về chụp ảnh gửi cho “người em” xác nhận việc đã nhận được tiền cảm ơn. Chị H1 đồng ý và mượn số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) của chị Nguyễn Thị T là giáo viên dạy môn Lịch sử của trường. Đến ngày 06/01/2022, chị H1 đã đưa cho H số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) tại nơi làm việc. H nhận tiền và ngày hôm sau đã trả lại cho chị H1, H nói là đã chụp ảnh gửi cho “người em".

2

Đến tháng 9/2023, H tiếp tục gặp và nói với chị H1 về việc làm đơn kiện và nhờ “người em” tác động thanh tra, kiểm tra công tác thu chi của trường. Chị H1 do lo sợ nên tiếp tục xin H bỏ qua. Ngày 14/10/2023, Phạm Thị H làm Đơn tố cáo gửi Ban thanh tra nhân dân của trường THCS T1 về việc ban Tài vụ của trường vi phạm quy định về tài chính. Công đoàn và Ban T1 đã tiến hành giải quyết Đơn theo quy định.

Đầu tháng 11/2023, H gặp và nói với chị H1 nếu muốn bỏ qua, không kiện cáo, không yêu cầu thanh tra, kiểm tra nữa thì phải đưa tiền cho H cảm ơn “người em”. H nói: “người em” yêu cầu đưa 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) nhưng H đã xin nên giảm xuống còn 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng). Chị H1 lo sợ nên đã đồng ý. Ngày 08/11/2023, H gặp chị H1 tại phòng Hiệu trưởng và gợi ý chị H1 đưa cho mình một khoản tiền bằng với khoản tiền đưa cho “người em” là 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng), mục đích như lần trước. H nói: “người em” chuẩn bị về Thanh Hóa công tác nên chị H1 phải chuẩn bị số tiền 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng). Chị H1 đã vay số tiền 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng), trong đó vay của chị Nguyễn Thị T số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng); Vay của chị Lương Thị N là giáo viên dạy Toán Lý của trường số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng); Vay của ông Đỗ Chí B1 là anh trai số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Đến tối ngày 09/11/2023, chị H1 đến nhà H và đưa cho H số tiền 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng) thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Phạm Thị H thừa nhận hành vi đe dọa chị H1 sẽ nhờ “người em” làm bên Thanh tra Chính phủ hướng dẫn làm đơn tố cáo, tác động để thanh tra, kiểm tra những sai phạm trong công tác quản lý tài chính của nhà trường. Khi thấy chị H1 lo sợ H đã yêu cầu chị H1 đưa số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng) vào tháng 7/2021 và 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng) vào ngày 09/11/2023. Số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng) H đã chi tiêu cá nhân hết. Quá trình giải quyết vụ án H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhưng sau đó lại không thừa nhận việc này.

Chị Đỗ Thị H1 xác nhận vào ngày 08/11/2023, Phạm Thị H có gợi ý cảm ơn riêng thêm 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng) nhưng không nói thời gian cụ thể phải đưa. Chị H1 nhận định nếu đưa thêm 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng) thì H cũng sẽ trả lại vì trước đây H cũng đã trả lại 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) tiền “cảm ơn riêng” vào năm 2022. Sau khi đưa tiền cho H vào ngày 09/11/2023, chị H1 xác định sẽ không đưa thêm tiền cho H nữa nên đã trình báo Cơ quan Công an. Quá trình điều tra xác minh các hành vi này không đủ cơ sở để xem xét, xử lý hình sự đối với Phạm Thị H.

Chị Đỗ Thị H1 đã giao nộp 04 file âm thanh ghi âm cuộc gọi nói chuyện giữa chị H1 và Phạm Thị H liên quan đến việc H đe dọa yêu cầu chị H1 đưa tiền. Cơ quan

3

điều tra tiến hành thu âm giọng nói của Phạm Thị H để tiến hành giám định. Tại Kết luận giám định số 181/KL-KTHS ngày 01/3/2024 của V1 Bộ C1, kết luận:

  • Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tệp mẫu cần giám định và mẫu so sánh.
  • Tiếng nói của người phụ nữ xưng “em” trong các tệp âm thanh mẫu cần giám định (ký hiệu “Hòa” trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định) và tiếng nói của Phạm Thị H trong mẫu so sánh là của cùng một người.
  • Nội dung hội thoại trong các tệp video mẫu cần giám định đã được chuyển thành văn bản.
  • Kèm theo Kết luận giám định, gồm: 01 bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định gồm 07 trang giấy khổ A4.

Quá trình khám xét chỗ ở của Phạm Thị H thu giữ: Tiền ngân hàng N1 45.800.000đ; 01 Laptop nhãn hiệu DELL màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galasy A23 màu hồng đã qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0978.456.579 và 0918.832.618.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị D, sinh năm 1973, trú tại khu E thị trấn L, huyện T là chủ tịch Công đoàn trường THCS T1 giao nộp các tài liệu liên quan đến việc giải quyết đơn tố cáo của Phạm Thị H, gồm: 01 bản photo đơn tố cáo của Phạm Thị H; 01 Quyết định thụ lý đơn tố cáo của Công đoàn trường THCS T1; 01 thông báo thụ lý đơn tố cáo; 01 Quyết định thành lập Đoàn tổ xác minh tố cáo; 01 Biên bản làm việc với người trực tiếp tố cáo; 01 Văn bản trả lời nội dung tố cáo; 01 báo cáo kết quả xác minh nội dung tố cáo; 01 kết luận nội dung tố cáo.

Đối với việc Phạm Thị H tố cáo chị Đỗ Thị H1 có hành vi sai phạm trong quản lý tài chính để thu lợi. Quá trình điều tra tiến hành làm việc với các giáo viên tham gia dạy thêm tại trường THCS T1, các giáo viên đều khẳng định được trích 75% tiền dạy thêm. Chị Đỗ Thị H1 đã giao nộp danh sách tổng hợp các lớp nộp tiền dạy thêm, danh sách chi tiền dạy thêm, bảng tổng hợp số buổi dạy của giáo viên từ năm 2020 đến năm 2023. Qua thống kê nhà trường đã chi trả cho giáo viên là 75% số tiền thu từ việc dạy thêm, có chữ ký xác nhận đã nhận tiền của Phạm Thị H.

Đối với số tiền 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng) Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại.

Về dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng). Bị hại không yêu cầu gì khác.

Vật chứng vụ án: Số tiền 45.800.000đ (Bốn lăm triệu tám trăm ngàn đồng); 01 Laptop nhãn hiệu DELL màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galasy A23 màu hồng đã qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0978.456.579 và 0918.832.618 hiện đang quản lý theo quy định pháp luật.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 61/2024/HSST ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, đã Quyết định:

4

Căn cứ: Điểm a khoản 3 Điều 170; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H, phạm tội: "Cưỡng đoạt tài sản"

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị H 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí giành quyền kháng cáo.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, bị cáo Phạm Thị H có Đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo.

Kiểm sát viên VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.

Án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Lời sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt để yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phạm Thị H nộp đơn kháng cáo trong thời hạn quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, do đó vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và lời khai tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Phạm Thị H đã có hành vi lợi dụng sự tin tưởng của chị Đỗ Thị H1 đưa ra thông tin giả có người em làm thanh tra chính phủ và sẽ nhờ người này hướng dẫn làm đơn tố cáo chị H1 về việc vi phạm trong quản lý thu chi tài chính của nhà trường, nhằm mục đích để đe dọa, uy hiếp tinh thần chị H1. Đồng thời, bị cáo H yêu cầu chị H1 đưa tiền thì sẽ bỏ qua, mục đích để chiếm đoạt tiền của chị H1. Do lo sợ bị thanh tra, kiểm tra sẽ ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của bản thân, gia đình và nhà trường nên chị H1 đã buộc phải đưa tiền cho bị cáo H hai lần: Lần thứ nhất vào tháng 7/2021 số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng), lần thứ 2 vào ngày 09/11/2023 số tiền

5

300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng). Tổng số tiền chiếm đoạt là 450.000.000đ. (Bốn trăm năm mươi triệu đồng).

Do có hành vi nêu trên, bị cáo Phạm Thị H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 điều 170 Bộ luật hình sự như bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2.2] Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, thấy rằng:

Khi quyết định hình phạt, bị cáo đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ là: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; bị cáo có nhiều thành tích trong công tác, được BCH Công đoàn giáo dục huyện T tặng Giấy khen; Được Chủ tịch UBND huyện T Danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở; Bố bị cáo là ông Phạm Thắng C được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Phạm Thị H thừa nhận hành vi phạm tội và xin HĐXX cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo cũng thừa nhận đã tác động gia đình đã bồi thường thiệt hại cho bị hại. Gia đình bị cáo đã giao nộp cho Toà án các tài liệu, chứng cứ mới gồm: Đơn xin xác nhận gia đình khó khăn (Có xác nhận của chính quyền địa phương).

Xét thấy, bị cáo Phạm Thị H có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét và có thêm tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm: Tại giai đoạn sơ thẩm, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội cũng như không thừa nhận về việc gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại. Tuy nhiên, tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận việc bồi thường thiệt hại cho bị hại, được chính quyền địa phương xác nhận có hoàn cảnh khó khăn đang nuôi con nhỏ ăn học. Điều đó thể hiện thái độ ăn năn hối cải và tích cực sửa chữa lỗi lầm, do đó Tòa án cấp phúc thẩm có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của Kiểm sát viên, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

[3] Về án phí: Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị H, sửa bản án sơ thẩm số 61/2024/HS-ST ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt.

6

1. Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H, phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Xử phạt: Phạm Thị H 07 (B2) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/11/2023.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo không phải nộp.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - TAND huyện Thọ Xuân;
  • - CA huyện Thọ Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ; VP; Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Anh Đức

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 208/2024/HSPT ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự - cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 208/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị H, phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger