TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 208/2024/HS-ST Ngày 29-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Tư
Bà Hà Thị Mão
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 196/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 519/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Trương Công S, sinh ngày 19 tháng 3 năm 1988 tại Quảng Ninh; nơi cư trú: F N, A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T và bà Lại Thị D; có vợ là Trần Khánh L (chưa đăng ký kết hôn) và 02 con; tiền án: Tại Bản án số 90/2017/HSST ngày 23/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội Mua bán trái phép vũ khí quân dụng (chưa được xóa án tích); Tại Bản án số 58/2020/HS-ST ngày 3/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 03 năm tù về tội Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 23/4/2024, tạm giam từ ngày 26/4/2024; có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1997, nơi cư trú: Số G đường D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 17/3/2024, tại quán B số A L, N, Hải Phòng của bà Bùi Thị H1, Trương Công S, Nguyễn Văn H (sinh năm 1997, Nơi ở hiện tại: 70/92 đường D, phường D, L, Hải Phòng), Phạm Văn N, Trần Văn P, N1 (chưa rõ tên tuổi địa chỉ), T1 (chưa rõ tên tuổi địa chỉ) và Việt A – chồng của T1 (chưa rõ tên tuổi địa chỉ) cùng nhau ăn uống.
Đến khoảng 00 giờ 40 phút cùng ngày, giữa P và T1 xảy ra to tiếng, mọi người trong nhóm cùng vào can ngăn, sau đó H và N1 đưa P về, cả nhóm giải tán, S và N ở lại tính tiền. Sau khi đưa P về nhà, H phát hiện quên điện thoại quay lại quán bia tìm thì không thấy điện thoại đâu, Hứa hỏi chủ quán thì bà H1 trả lời không thấy và khi dọn dẹp thấy N và bạn của N (tức S) về sau cùng. Hứa đã mượn điện thoại của bà H1 để gọi điện cho N hỏi về chiếc điện thoại của mình. Mười lăm phút sau, N và S quay lại trả lời với H là không thấy điện thoại của H. Đến 11 giờ cùng ngày, H mua điện thoại mới và làm lại sim để sử dụng thì phát hiện tài khoản ngân hàng T2 số 19034127837018 bị chuyển mất số tiền 30.000.0000 đồng đến tài khoản Ngân hàng V. Ngày 23/4/2024, H đến Công an quận N trình báo sự việc trên.
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 23/4/2024, Trương Công S đến công an quận N đầu thú về hành vi trộm cắp điện thoại và đã chuyển tiền từ tài khoản của H đến tài khoản Ngân hàng V số [...] mang tên Tran Mai Thanh X. S đã giao nộp 01 điện thoại Redmi 10 64 GB, màu xám.
Tại Cơ quan điều tra, S khai nhận: Khi H và N1 đưa P về còn S và N ở lại tính tiền, thì S thấy trên ghế bên trái S ngồi có 01 chiếc điện thoại di động màu ghi xám nhãn hiệu Redmi 10 để cạnh bao thuốc lá và bật lửa của S, khi không có ai để ý, S đã lấy trộm và cho vào túi quần rồi cùng N ra về đến khu vực cây xăng Đ thì có điện thoại của H gọi cho N bảo quay lại quán bia để hỏi về điện thoại. Khi quay lại quán bia được hỏi về chiếc điện thoại S trả lời là không biết và cùng N ra về (N không biết việc S lấy điện thoại của H). Khi về đến nhà, S mở chiếc điện thoại vừa lấy trộm ra xem, thấy trên điện thoại không khóa màn hình, trong điện thoại có phần ghi chú để mật khẩu ngân hàng T2 là 050679 và tên đăng nhập. S đã chuyển 30.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của H vào trò chơi game quay số may mắn trúng thưởng trên điện thoại của S bằng cách quét mã QR chuyển vào tài khoản ngân hàng V, chủ tài khoản tên là Tran Mai Thanh X. Sau khi chơi hết tiền, S đã bán điện thoại củamình cho một người không quen biết trên mạng xã hội.
Tại Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 30/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10, màu xám 64GB, đã qua sử dụng đến thời điểm bị xâm hại tài sản trên có giá 2.100.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 195/CT-VKSNQ ngày 31 tháng 7 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Trương Công S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 36 tháng đến 48 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự và tại phiên tòa, gia đình bị cáo S bồi thường một phần với số tiền 10.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0003221 ngày 29/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nên trả lại cho anh Nguyễn Văn H số tiền 10.000.000 đồng và buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn H số tiền 20.000.000 đồng.
- Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị hại giữ nguyên ý kiến đã trình bày và yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền 30.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Ngày17/3/2024, tại quán bia vỉa hè số A L, Ngô Q, Hải Phòng, bị cáo Trương Công S đã có hành vi lén lút
chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại Redmi 10 màu xám 64GB đã qua sử dụng của anh Nguyễn Văn H trị giá 2.100.000 đồng. S đã mở điện thoại, đăng nhập tài khoản chuyển số tiền 30.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của anh H sang tài khoản chơi game và sử dụng hết. Tổng giá trị tài sản bị cáo S chiếm đoạt là 32.100.000 đồng. Hành vi của bị cáo Trương Công S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự, trị an ở địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[3] Bị cáo có 2 tiền án chưa xóa án tích, lần phạm tội tại Bản án số 58/2020/HS-ST ngày 3/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xác định là tái phạm nên đối với lần phạm tội này bị cáo Trương Công S phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung hình phạt tại điểm g “tái phạm nguy hiểm”.
- Về hình phạt:
[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú; gia đình bị cáo S đã bồi thường một phần cho bị hại nên bị cáo Trương Công S được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, xét cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[7] Theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
[8] Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 30.000.000 đồng là tài sản bị chiếm đoạt. Xét yêu cầu của bị hại là có căn cứ, phù hợp với các quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự và các điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự nên chấp nhận. Tại phiên tòa, gia đình bị cáo S bồi thường một phần với số tiền 10.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0003221 ngày 29/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nên trả lại cho anh Nguyễn Văn H số tiền 10.000.000 đồng này và buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn H số tiền 20.000.000 đồng.
- Về án phí:
[9] Bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về những vấn đề khác:
[10] Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng số 1917/QĐ-ĐCSHS ngày 26/6/2024 trả lại 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xám, đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn H. Hội đồng xét xử xét thấy việc xử lý của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N là phù hợp với pháp luật.
[11] Quá trình điều tra xác định: Số tiền 30.000.000 đồng bị cáo S sử dụng chơi game online trên điện thoại được chuyển đến số tài khoản 903147615 thuộc ngân hàng V mang tên Trần Mai Thanh X1, nơi thường trú: Tổ 1 ấp A, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã ra quyết định ủy thác điều tra tuy nhiên vẫn chưa xác định được đối tượng nên chưa có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Trương Công S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trương Công S 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23 tháng 4 năm 2024.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự và các điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn H số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh Nguyễn Văn H cho đến khi thi hành án xong, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trả lại cho anh Nguyễn Văn H số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng mà gia đình bị cáo Trương Công S đã nộp tiền bồi thường theo Biên lai thu tiền số 0003221 ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Trương Công S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ (một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Tổng số tiền án phí bị cáo phải nộp là 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng).
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hồng Phương |
Bản án số 208/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 208/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tại Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 30/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Ngô Quyền, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10, màu xám 64GB, đã qua sử dụng đến thời điểm bị xâm hại tài sản trên có giá 2.100.000 đồng.
