Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 208/2024/HS-ST

Ngày 14-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Văn Ái;

Các Hội thẩm nhân dân: bà Lương Thị Kim Nghĩa và ông Phạm Văn Thạnh.

 - Thư ký phiên tòa: ông Chiêm Tiền Quí Nhân-Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

 - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Trung Tiến-Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 259/2024/TLST-HS, ngày 02 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 329/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo:

Thanh Tiến, sinh năm 1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: nhà số G, đường L, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (gia đình đã bán nhà đi khỏi địa phương); nơi ở: không ổn định; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh D và bà Lâm Thị Thanh L; có vợ và 01 con sinh năm 2019; tiền án: không có; tiền sự: ngày 08/3/2023, bị Công an P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” (đã chấp hành Quyết định ngày 03/8/2023, chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); nhân thân: ngày 22/7/2010, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về “Tội cướp giật tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 30/4/2011 và quyết định khác tháng 8/2012, do khi phạm tội đủ 14 tuổi dưới 16 tuổi nên không được coi có án tích); ngày 09/12/2011, bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về “Tội cướp giật tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 11/01/2014 và quyết định khác ngày 09/12/2011, án tích đã được xóa); bị tạm giữ ngày 18-8-2023 (tính theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường B, quận B lập lúc 20 giờ 40 phút ngày 18-8-2023), tạm giam ngày 27-8-2023 “có mặt”.

*Các bị hại:

  1. Anh Võ Ngọc D1, sinh năm 1998. Nơi thường trú: Thôn D, xã E, huyện P, tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú hiện nay: nhà số G, đường V, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”;
  2. Anh Lê Nguyễn Trọng N, sinh năm 2004. Nơi thường trú: nhà số D, đường N, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú hiện nay: chung cư P, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh “xin vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 18/8/2023, Lê Thanh T1 điều khiển xe môtô hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xám đen, biển số 59B1-541.27 lưu thông qua nhiều tuyến đường để tìm người có tài sản giật lấy bán kiếm tiền tiêu xài thì: lúc 19 giờ 20 phút cùng ngày, T1 trước nhà số E, đường M, phường B, quận B nhìn thấy anh Lê Nguyễn Trọng N đang điều khiển xe môtô hiệu Honda, loại Airblade, màu đen, biển số 59X3-839.38 (có chở người em tên Nguyễn Trọng N1) lưu thông phía trước cùng chiều và trên tay trái của anh N có cầm sử dụng chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax 256GB, màu đen nên T1 tăng ga xe chạy vượt lên áp sát vào bên phải anh N rồi dùng tay trái đưa qua người anh N giật lấy được chiếc điện thoại của anh N cất vào trong cái rổ gắn giữa xe và tăng ga xe bỏ chạy tẩu thoát. Lúc này, do nghe thấy anh N vừa tri hô lên và vừa chạy đuổi theo liền kề phía sau nên T1 lấy cái bình xịt hơi cay từ trong cái rổ xe ra cầm trên tay trái xịt hướng vào người anh N để được chạy thoát. Tuy nhiên, khi T1 chạy đến trước nhà số A, Đường Số A, phường B, quận B thì, do xe T1 va chạm với 01 xe môtô khác làm T1 bị ngã, còn anh N cũng vừa đến cùng người dân xung quanh bắt giữ được T1 và vật chứng giao cho Công an phường B, quận B xử lý người có hành vi phạm tội quả tang rồi chuyển cho Cơ quan điều tra-Công an quận B giải quyết theo thẩm quyền; theo kết luận định giá tài sản, chiếc điện thoại của anh N trị giá 18.000.000 đồng và đã giao trả lại cho anh N); còn theo kết quả giám định thì bịt xịt hơi cay của T1 sử dụng “thuộc nhóm công cụ hỗ trợ”. Tại đây, T1 đã khai nhận: ngoài lần thực hiện hành vi như đã nêu trên, T1 còn có thêm 01 lần thực hiện hành vi giật lấy tài sản trên địa bàn Quận E, cụ thể như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 07/5/2023, T1 điều khiển xe môtô kiểu dáng loại Exciter, biển số 59B1-541.27 chạy qua nhiều tuyến đường để tìm người có tài sản giật lấy thì: lúc đến cạnh Công viên Võ Văn K (đối diện nhà số A đường V, Phường F, Quận E) nhìn thấy anh Võ Ngọc D1 đang ngồi trên ghế đá nói chuyện với bạn và trên tay có cầm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax 256GB, màu tím nên liền điều khiển xe chạy áp sát phía trước mặt anh D1 và dùng tay trái giật lấy được chiếc điện thoại của anh D1 rồi tăng ga xe bỏ chạy tẩu thoát đến bán cho tên C (không rõ lai lịch) được 10.000.000 đồng tiêu xài hết. Còn anh D1 đã đến Công an P1, Quận E trình báo; sau khi tiếp nhận tin báo và lập hồ sơ ban đầu, Công an P1, Quận E đã chuyển cho Cơ quan điều tra-Công an Q giải quyết theo thẩm quyền; theo kết luận định giá tài sản, chiếc điện thoại của anh D1 trị giá 21.000.000 đồng. Trong quá trình truy xét, Cơ quan điều tra-Công an Q đã nhận được thông báo của Cơ quan điều tra-Công an quận B nên tiến hành thực hiện các bước về thủ tục tố tụng rồi chuyển cho Cơ quan điều tra-Công an quận B giải quyết chung cùng với vụ án đã nêu trên.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Thanh T1 đã khai nhận: Do đang trong lúc cần có tiền tiêu xài nên bị cáo đã 02 lần sử dụng xe môtô biển số 59B1-541.27 làm phương tiện thực hiện hành vi giật lấy tài sản của người khác theo trình tự thời gian cụ thể là, lần thứ nhất: khi bị cáo điều khiển xe chạy đường để tìm người có tài sản giật lấy thì, bị cáo nhìn thấy anh Võ Ngọc D1 đang ngồi trên ghế đá nói chuyện với

bạn, trên tay có cầm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax 256GB, màu tím nên bị cáo liền điều khiển xe chạy áp sát phía trước mặt anh D1 và dùng tay trái giật lấy được chiếc điện thoại của anh D1 rồi tăng ga xe bỏ chạy tẩu thoát đến bán cho tên C (không rõ lai lịch) được 10.000.000 đồng (đã tiêu xài hết). Lần thứ hai: khi bị cáo điều khiển xe chạy đường để tìm người có tài sản giật lấy thì, bị cáo nhìn thấy anh Lê Nguyễn Trọng N đang điều khiển xe lưu thông phía trước cùng chiều và trên tay trái của anh N có cầm sử dụng 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax 256GB, màu đen nên bị cáo liên cho xe chạy vượt lên áp sát vào bên phải anh N và dùng tay trái chồm qua giật lấy được chiếc điện thoại của anh N rồi tẩu thoát; lúc này, do bị anh N đuổi theo kịp phía sau nên bị cáo dùng bình xịt hơi cay xịt hướng vào người anh N để được chạy thoát, nhưng chỉ được một lúc thì do xe của bị cáo va chạm với 01 xe khác trên đường làm cho bị cáo té ngã và bị bắt cùng với vật chứng giao cho Công an giải quyết nên nay bị cáo thừa nhận đã 01 lần thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đồng thời tự nguyện đồng ý bồi thường thiệt hại cho anh D1 về chiếc điện thoại di động với số tiền tương đương là 21.000.000 đồng và không có ý kiến gì về việc giải quyết các loại tài sản của bị cáo còn bị tạm giữ.

Tại Cáo trạng số: 248/CT-VKS, ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Thanh T1 ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội cướp giật tài sản”, theo các điểm d, đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: Bị cáo Lê Thanh T1 đã 02 lần có hành vi nhanh chóng chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác một cách công khai rồi tẩu thoát, cụ thể: lần thứ nhất, là 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax 256GB, màu tím của anh Võ Ngọc D1 trị giá là 21.000.000 đồng; lần thứ hai: là 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax 256GB, màu đen của anh Lê Nguyễn Trọng N trị giá là 18.000.000 đồng; đồng thời, bị cáo đã sử dụng xe môtô làm phương tiện thực hiện hành vi này nên được coi là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và đã dùng bình xịt hơi cay chống trả lại người truy đuổi là “Hành hung để tẩu thoát”. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi trên nên còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên”, lại còn có nhân thân xấu nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm d, đ khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 06 tháng tù về “Tội cướp giật tài sản”. Về trách nhiệm dân sự, ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường thiệt hại cho anh Võ Ngọc D1 số tiền 21.000.000 đồng. Còn về vật chứng, đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe môtô hiệu Yamaha Exciter, màu đen; giao trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu N2; tịch thu tiêu hủy gồm: 01 biển số xe biển số 59B1-541.27 (đang gắn theo xe trên), 01 áo thun, 01 quần Jean và 01 áo khoác.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân xét viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và các bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo Lê Thanh T1 tại phiên tòa hôm nay cho thấy: bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi nhanh chóng chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác một cách công khai rồi tẩu thoát, cụ thể như sau: lần thứ nhất, vào khoảng 21 giờ ngày 07/5/2023 tại Công viên V (đối diện nhà số A đường V, Phường F, Quận E) là 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax 256GB, màu tím của anh Võ Ngọc D1. Lần thứ hai, vào khoảng 19 giờ 20 phút ngày 18/8/2023 tại trước nhà số E, đường M, phường B, quận B là 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax 256GB, màu đen của anh Lê Nguyễn Trọng N. Theo các kết luận định giá tài sản số: 107/KL-HĐĐGTS, ngày 29/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận B và số: 358/KL-HĐĐGTS, ngày 16/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận B thì, chiếc điện thoại di động của anh D1 trị giá 21.000.000 đồng, của anh N trị giá 18.000.000 đồng và bị cáo đã sử dụng xe môtô biển số 59B1-541.27 làm phương tiện thực hiện hành vi này cùng với việc dùng bình xịt hơi cay xịt vào người bị hại là anh N lúc truy đuổi để chống trả lại nhằm mục đích được chạy thoát nên được coi là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “Hành hung để tẩu thoát”. Do đó, bị cáo Lê Thanh T1 đã phạm “Tội cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định các điểm d, đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, những người làm chứng; biên bản, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra và bị cáo diễn lại hành vi; 01 phần vật chứng thu giữ được, nhân dạng, kết luận định giá tài sản...nên đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và mọi phần lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận, riêng đối mức án đề nghị là chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo như đã nêu trên nên cần phải xử bị cáo với mức án cao hơn thì mới phù hợp. Còn việc bị cáo có hành vi tăng trữ, sử dụng bình xịt hơi cay thì: tuy theo Kết luận giám định số: 12378/KL-KTHS, ngày 15/11/2023 của Phòng K1-Công an Thành phố H. kết luận “là bình xịt hơi cay, còn sử dụng được, thuộc nhóm công cụ hỗ trợ”, nhưng do bị cáo chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này hay từng bị kết án về loại tội này nên hành vi của bị cáo chưa đủ yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ” hoặc “Tội sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ”, theo quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Cơ quan điều tra đã chuyển cho Công an phường B, quận B xử lý hành chính theo quy định là có căn cứ.

[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã lợi dụng sự sơ hở của người khác để chiếm đoạt trái phép tài sản một cách công khai ngay trên đường phố là hết sức táo bạo, liều lĩnh và xem thường pháp luật; không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đồng thời, bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi này nên còn phải chịu tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên”, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích có tiền để thỏa mãn cho nhu cầu tiêu xài của cá nhân, lại có nhân thân xấu là đã từng 02 lần bị kết án về hành vi này và 01 lần bị xử phạt hành chính mà vẫn còn vi phạm pháp luật là mối nguy hiểm lớn cho xã hội nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Về phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”; do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có nghề nghiệp và điều kiện kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, tuy các bị hại là anh Võ Ngọc D1Lê Nguyễn Trọng N đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt, nhưng theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì: anh N đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên không xét. Riêng đối với anh D1 có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho anh về chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax 256GB, màu tím đã chiếm đoạt với số tiền là 21.000.000 đồng theo như kết luận định giá tài sản thì xét yêu cầu của anh D1 đã được bị cáo tự nguyện đồng ý là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần ghi nhận.

[7] Về vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax 256GB, màu tím của anh Võ Ngọc D1, do không thu hồi được; còn 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax 256GB, màu đen của anh Lê Nguyễn Trọng N, đã được thu hồi giao trả lại cho anh N; riêng 01 bình xịt hơi cay, do Cơ quan điều tra đã chuyển cho Công an phường B xử lý hành chính nên không xét cho cả 03 trường hợp này. Đối với 01 chiếc xe môtô Yamaha Exciter, màu xám đen (vụ Lê Thanh T1 tội “Cướp giật tài sản” và đã qua sự dụng) của bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội và khai: xe do mua của người không rõ lai lịch; còn theo kết luận giám định về số máy và số khung xe thì, “bị mài mất số”; xét, do xe này không được phép sử dụng lưu thông nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước. Đối với cái 01 DTDD hiệu Nokia 230, màu đen, có số sê ri 1: 356011081115229, số sê ri 2: 56011081115237, không có sim (vụ Lê Thanh T1 tội “Cướp giật tài sản”) của bị cáo và không liên quan gì đến hành vi phạm tội nên cần giao trả lại cho bị cáo. Đối với 01 biển số 59B1-541.27 (đang gắn theo xe trên) là giả, không có giá trị sử dụng; 01 áo thun ngắn tay màu đen, phía trước có in hình màu trắng, phía sau có in hoa văn

màu trắng; 01 quần Jean dài m (vụ Lê Thanh T1 tội “Cướp giật tài sản”) và 01 áo khoác dài tay màu đen (vụ Lê Thanh T1 tội “Cướp giật tài sản” và đã qua sự dụng) của bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tất cả để tiêu hủy.

[8] Bị cáo Lê Thanh T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về căn cứ điều luật và xử phạt:
    • - Căn cứ vào các điểm d, đ khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
    • - Xử phạt bị cáo Lê Thanh T1 06 (sáu) năm tù về “Tội cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 18-8-2023.
  2. Về trách nhiệm dân sự: căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; các điều 585, 586, 589, 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
    • Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Lê Thanh T1 bồi thường thiệt hại cho anh Võ Ngọc D1 số tiền 21.000.000 (hai mươi mốt triệu) đồng.
    • Kể từ ngày anh Võ Ngọc D1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Lê Thanh T1 chưa thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm cho anh D1 tiền lãi theo mức lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền được quy định tại các điều 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  3. Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe môtô Yamaha Exciter, màu xám đen (vụ Lê Thanh T1 tội “Cướp giật tài sản” và đã qua sự dụng).
    • - Giao trả lại cho bị cáo Lê Thanh T1 01 DTDD hiệu Nokia 230, màu đen, có số sê ri 1: 356011081115229, số sê ri 2: 56011081115237, không có sim (vụ Lê Thanh T1 tội “Cướp giật tài sản”).
    • - Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 biển số 59B1-541.27 (đang gắn theo xe trên); 01 áo thun ngắn tay màu đen, phía trước có in hình màu trắng, phía sau có in hoa văn màu trắng; 01 quần Jean dài m (vụ Lê Thanh T1 tội “Cướp giật tài sản”) và 01 áo khoác dài tay màu đen (vụ Lê Thanh T1 tội “Cướp giật tài sản” và đã qua sự dụng).
    • (Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số: NK24/258TV, ngày 30/7/2024)
  4. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
    • Bị cáo Lê Thanh T1 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.050.000 (một triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
    • Bị cáo Lê Thanh T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại anh Võ Ngọc D1Lê Nguyễn Trọng N vắng mặt có quyền

kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

(Đã giải thích quy định về quyền yêu cầu thi hành dân sự cho bị cáo)

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP . HCM;
  • - VKSND Q.BT;
  • - CQĐT-CA Q.BT;
  • - Nhà tạm giữ-CA Q.BT;- Chi cục THA DS Q.BT;
  • - Trại tạm giam;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú (thay cho thông báo);
  • - Bị cáo, bị hại (nếu có);
  • - Người tham gia tố tụng khác (nếu có);
  • - Lưu hs, Vp (Thi hành án Hình sự).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Văn Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 208/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 208/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh T “Tội cướp giật tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger