Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2079/2024/KDTM-ST

Ngày: 25-9-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ái Long

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Bùi Thị Hòa Bình
  2. Bà Trần Thị Tuyết Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Hồng An, là Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ kinh doanh thương mại thụ lý số 0721/2023/TLST-KDTM ngày 12 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 631/2024/QĐXX-ST ngày 12/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 552/QĐST-DS ngày 05/9/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V

Địa chỉ: H L, phường L, quận Đ, Tp.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng L (Văn bản ủy quyền số 5891/2020/UQ-PGĐ ngày 25/6/2024) (Có mặt).

Bị đơn: Công ty Cổ phần T1 (Vắng mặt).

Địa chỉ: 1 B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trung T (Vắng mặt).

Địa chỉ: 9.06 Cao ốc Căn hộ và văn phòng T2, số G T, Phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1964 (Vắng mặt).
  2. Hoàng Thị Tuyết M, sinh năm 1972 (Vắng mặt).
  3. Nguyễn Thị Thu P, sinh năm 1999 (Vắng mặt).

1

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 3 năm 2023, bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 28/5/2021, Ngân hàng Thương mại Cổ phần VCông ty Cổ phần T1 có ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số H09/21323 cụ thể như sau:

  • Hạn mức cho vay: 1.500.000.000 đồng;
  • Thời hạn duy trì hạn mức là: 12 tháng;
  • Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh vận tải hàng hóa đường bộ;
  • Lãi suất cho vay: Theo quy định tại Hợp đồng cho vay hạn mức ngày 28/5/2021.

Để đảm bảo thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên của Công ty Cổ phần T1, ngày 28/5/2021, ông Nguyễn Trung T, bà Hoàng Thị Tuyết M, bà Nguyễn Thị Thu P đã ký các Hợp đồng bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Nguyễn Trung T, bà Hoàng Thị Tuyết M, bà Nguyễn Thị Thu P theo các hợp đồng bảo lãnh sau: Hợp đồng bảo lãnh số H09/21323.01; Hợp đồng bảo lãnh số H09/21323.02; Hợp đồng bảo lãnh số H09/21323.03.

Trong quá trình sử dụng vốn vay, Công ty Cổ phần T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại khế ước nhận nợ 01 số H09/21323-1 ngày 31/5/2021, cụ thể:

  • Số tiền nhận nợ: 1.328.000.000 đồng;
  • Thời hạn vay: 06 tháng;
  • Lãi suất: 20.4%/năm.
  • Lãi suất cho vay được điều chỉnh 01 tháng/01 lần.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần V đã nhiều lần làm việc với Công ty T1 nhưng Công ty có tính kéo thời gian nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 06/8/2024, Công ty Cổ phần T1 còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền: 2.148.618.005 đồng, cụ thể như sau:

  • Nợ gốc: 1.322.998.355 đồng;
  • Lãi trong hạn: 24.198.202 đồng;
  • Lãi quá hạn : 798.743.071 đồng;
  • Lãi chậm trả : 2.678.376 đồng.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần V yêu cầu Công ty T1 còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng tính từ ngày 07/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

2

Trường hợp Công ty Cổ phần T1 không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V thì ông Nguyễn Trung T, bà Hoàng Thị Tuyết M, Nguyễn Thị Thu P có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên thay cho Công ty Cổ phần T1 theo các Hợp đồng bảo lãnh đã ký kết với Ngân hàng.

* Bị đơn Công ty Cổ phần T1, người đại diện theo pháp luật của Công ty là ông Nguyễn Trung T - Giám đốc, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung T, bà Hoàng Thị Tuyết M, bà Nguyễn Thị Thu P đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 26/7/2024, ngày 06/8/2024 nhưng Công ty Cổ phần T1, ông Nguyễn Trung T, bà Hoàng Thị Tuyết M, bà Nguyễn Thị Thu P vắng mặt không lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

* Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán:

Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể: Thẩm phán xác định, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên vụ án thụ lý ngày 12/4/2023 đến ngày 12/8/2024 Thẩm phán mới ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử là chưa đúng theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

* Về việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng:

3

Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn không thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần VCông ty Cổ phần T1 là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn Công ty Cổ phần T1 có đăng ký trụ sở chính tại địa chỉ số A B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ Công ty Cổ phần T1 và người đại diện theo pháp luật của Công ty, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung T, bà Hoàng Thị Tuyết M, bà Nguyễn Thị Thu P tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần nhất vào ngày 05/9/2024 và lần thứ hai vào ngày 25/9/2024 nhưng bị đơn và người đại diện theo pháp luật của Công ty, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn Công ty Cổ phần T1, người đại diện theo pháp luật của Công ty và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V yêu cầu bị đơn Công ty Cổ phần T1 thanh toán cho nguyên đơn số nợ gốc 1.322.998.355 đồng theo Hợp đồng cho vay hạn mức số H09/21323 ngày 28/5/2021 và khế ước nhận nợ số H09/21323-1 ngày 31/5/2021.

4

Theo quy định tại Điều 4 của Hợp đồng cho vay hạn mức ngày 28/5/2021, bị đơn Công ty Cổ phần T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán mặc dù nguyên đơn đã nhắc nhở nhiều lần và tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ nhưng bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như cam kết. Việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do vậy, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán ngay số tiền nợ gốc của khế ước nhận nợ số H09/21323-1 ngày 31/5/2021là: 1.322.998.355 đồng hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 4 (4.1.b) của Hợp đồng cho vay hạn mức ngày 28/5/2021có cơ sở để chấp nhận.

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V yêu cầu bị đơn Công ty Cổ phần T1 thanh toán nợ lãi tính đến ngày 25/9/2024 số tiền: 887.932.699 đồng, gồm: Lãi trong hạn: 24.198.202 đồng; Lãi quá hạn: 860.724.638 đồng; Lãi chậm trả: 3.009.859 đồng.

Hội đồng xét xử nhận định:

Khi ký Hợp đồng tín dụng, các bên đã thỏa thuận cụ thể về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và các kỳ hạn trả nợ trong hợp đồng tín dụng và trong khế ước nhận nợ, nhưng bị đơn Công ty Cổ phần T1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán theo đúng nội dung mà các bên đã thỏa thuận. Vì vậy, nguyên đơn đã chuyển toàn bộ số nợ vay của bị đơn sang nợ quá hạn. Xem xét thời gian tính lãi, mức lãi suất mà Ngân hàng đã áp dụng là phù hợp với thỏa thuận của các bên được quy định tại Điều 2 của Hợp đồng cho vay hạn mức số H09/21323 ngày 28/5/2021 và khế ước nhận nợ số H09/21323-1 ngày 31/5/2021, đồng thời cũng phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, khoản 1 Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng N được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN03-2-2005. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn Công ty Cổ phần T1 thanh toán nợ lãi tính đến ngày 25/9/2024 số tiền 887.932.699 đồng, gồm: Lãi trong hạn: 24.198.202 đồng; Lãi quá hạn: 860.724.638 đồng; Lãi chậm trả: 3.009.859 đồng là có cơ sở để chấp nhận.

Nguyên đơn còn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên nợ gốc chưa trả theo lãi suất do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi trả xong nợ kể từ ngày 26/9/2024. Xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn phù hợp với thỏa thuận tại hợp đồng nên chấp nhận.

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V yêu cầu trong trường hợp Công ty Cổ phần T1 không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung T, bà Hoàng Thị Tuyết M, Nguyễn Thị Thu P có trách nhiệm thanh toán toàn bộ

5

khoản nợ nêu trên thay cho Công ty Cổ phần T1 theo các Hợp đồng bảo lãnh đã ký kết với Ngân hàng.

Hội đồng xét xử nhận định:

Tại Điều 5 của Hợp đồng cho vay hạn mức ngày 28/5/2021 đã quy định về biện pháp bảo đảm tiền vay và được mô tả chi tiết tại các Hợp đồng bảo lãnh số H09/21323.01; Hợp đồng bảo lãnh số H09/21323.02; Hợp đồng bảo lãnh số H09/21323.03. Ông Nguyễn Trung T, bà Hoàng Thị Tuyết M, bà Nguyễn Thị Thu P đã bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản cá nhân để thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP V thay cho Công ty Cổ phần T1. Yêu cầu này của nguyên đơn là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 342 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.

Bị đơn Công ty Cổ phần T1, người đại diện theo pháp luật của Công ty, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung T, bà Hoàng Thị Tuyết M, bà Nguyễn Thị Thu P vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ. Vì vậy, bị đơn, người đại diện theo pháp luật của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy các yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh.

[4] Về án phí sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 688 và Điều 342 của Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Luật án phí, lệ phí Tòa án số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;

6

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

    - Buộc Công ty Cổ phần T1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền 2.210.931.054, trong đó gồm: Tiền nợ gốc: 1.322.998.355 đồng; Tiền nợ lãi tính đến ngày 25/9/2024, cụ thể sau: Lãi quá hạn: 860.724.638 đồng; Lãi trong hạn: 24.198.202 đồng; Lãi chậm trả: 3.009.859 đồng.

    Thời hạn thi hành: Thanh toán toàn bộ số tiền trên một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày 26/9/2024, Công ty Cổ phần T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng và trong khế ước nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.

    Trường hợp Công ty Cổ phần T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần V có quyền yêu cầu Nguyễn Trung T, bà Hoàng Thị Tuyết M, bà Nguyễn Thị Thu P có trách nhiệm thanh toán số toàn bộ nợ nêu trên theo Hợp đồng bảo lãnh số H09/21323.01; Hợp đồng bảo lãnh số H09/21323.02; Hợp đồng bảo lãnh số H09/21323.03 đã ký với Ngân hàng.

    Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 76.218.621 đồng Công ty Cổ phần T1 phải chịu. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.

    H lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền tạm ứng án phí đã nộp 28.679.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0019460 ngày 31/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.

  3. Quyền kháng cáo:

    Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Công ty Cổ phần T1, ông Nguyễn Trung T, bà Hoàng Thị Tuyết M, bà Nguyễn Thị Thu P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

7

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp.HCM;
  • - VKSND quận Bình Thạnh;
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - Chi cục THADS quận Bình Thạnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ái Long

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2079/2024/KDTM-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 2079/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP VN yêu cầu Công ty CP TM DV TTT thanh toán nợ.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger