|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 2077/2024/DS-ST
Ngày: 27-5-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợi
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Mai Thanh Giàu
- 2/ Bà Đặng Thị Thu Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng D – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 2229/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 2516/2024/QÐST-DS ngày 26/4/2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2517/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa đương sự:
1/ Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.
Địa chỉ trụ sở chính: số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1986.
Địa chỉ: số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Quyết định số 3524/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023 và Giấy ủy quyền số 303A/2024/GUQ-CNTT ngày 14/5/2024 của Ngân hàng TMCP S).
2/ Bị đơn: Bà Bùi Thị Tuyết L, sinh năm 1991.
Địa chỉ: số D Đường E, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 22/11/2023, đơn sửa đổi bổ sung nội dung khởi kiện ghi ngày 04/01/2024, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S, trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Huỳnh Khánh H, cũng như tại phiên tòa, ông Nguyễn Hoàng V là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 18/11/2020, bà Bùi Thị Tuyết L có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S (các tài liệu này gọi chung là hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà L theo hợp đồng lao động, ngày 19/11/2020, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa 472074-1753 cho bà L với hạn mức sử dụng là 16.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất áp dụng là 2,6%/tháng, lãi được tính trên từng giao dịch theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng) và bà L phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 25 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng.
Sau khi được cấp thẻ bà L đã thực hiện các lần giao dịch với tổng số tiền là 24.647.535 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt cho đến nay, bà L đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 17.441.846 đồng.
Từ ngày 12/11/2022, bà L bắt đầu thanh toán trễ hạn, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà L vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng) nên ngày 10/02/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ Visa 472074-1753 và chuyển toàn bộ dư nợ gốc còn thiếu là 19.166.990 đồng sang nợ quá hạn (Điều 24 Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng) và áp dụng lãi suất nợ quá hạn (150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn).
Mặc dù, Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở yêu cầu bà L thanh toán ngay khoản nợ quá hạn đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện để bà L trả nợ, nhưng bà L vẫn chưa thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng.
Tính đến hết ngày 26/5/2024, bà L còn nợ Ngân hàng tổng số tiền đồng trong đó nợ gốc là 19.166.990 đồng, lãi quá hạn là 12.485.268 đồng.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà L phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 26/5/2024 là 31.652.258 đồng trong đó nợ gốc là 19.166.990 đồng, nợ lãi quá hạn là 12.485.268 đồng.
Bà L còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 27/5/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Ngân hàng không biết chồng bà L là ai và đang cư trú tại đâu. Mặt khác Ngân hàng cũng chỉ cấp tín dụng cho cá nhân bà L, không liên quan đến người khác nên Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân bà L có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng.
Bị đơn bà Bùi Thị Tuyết L đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, và tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng bà L vẫn vắng mặt, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:
- Về việc xác định quan hệ tranh chấp: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L phải trả số tiền tạm tính đến ngày 15/11/2023 cho Ngân hàng là 26.536.214 đồng (trong đó nợ gốc là 19.166.990 đồng, nợ lãi quá hạn là 7.369.224 đồng) và đề nghị tiếp tục tính lãi quá hạn kể từ ngày 16/11/2023 cho đến khi bà L thanh toán xong các khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký. Do đó, khi thụ lý vụ án căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì việc Thẩm phán xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là có cơ sở.
- Về thụ lý và thẩm quyền giải quyết:Do bị đơn có địa chỉ tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thì Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức có cơ sở giải quyết vụ án.
- Về xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự: Căn cứ vào đơn khởi kiện cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhận thấy, Thẩm phán xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, người tham gia tố tụng là đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về xác minh, thu thập, giao nộp chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Đúng quy định tại điều 93, 94, 95, 96, 97, 208, 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thụ lý, giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và đương sự: Đúng quy định tại điều 195, 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Ngày 18/12/2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý vụ án. Ngày 02/4/2024, Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thủ tục cấp, tống đạt văn bản tố tụng: Tòa án không vi phạm thời hạn giao các văn bản quyết định cho Viện kiểm sát và đương sự.
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:
Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn thực hiện không đúng nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
+ Về nội dung vụ án:
Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, ý kiến của các đương sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn bà L phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số nợ gốc và lãi tính đến hết ngày 26/5/2024 là 31.652.258 đồng (trong đó nợ gốc là 19.166.990 đồng, nợ lãi quá hạn là 12.485.268 đồng) và thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký từ ngày 27/5/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà L phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu bà L phải trả số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng; Bà L hiện đang cư trú tại số D Đường E, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ quy định khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo theo thủ tục sơ thẩm.
[2] Về thủ tục tố tụng:
[2.1] Việc tham gia tố tụng của các đương sự:
Nguyên đơn tham gia và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Đương sự không yêu cầu mời người làm chứng, người tham gia tố tụng khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị đơn bà L đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng bà L vẫn vắng mặt; Tòa án cũng không nhận được bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc bà L vắng mặt có lý do chính đáng do đó căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L.
Theo nội dung Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ghi ngày 18/11/2020 của bà L thì tại thời điểm nguyên đơn cấp tín dụng, bà L còn độc thân. Phía nguyên đơn cũng không yêu cầu chồng bà L phải có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn do đó không cần thiết phải triệu tập chồng bà L tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2.2] Về chứng cứ của vụ án:
Tòa án đã đảm bảo việc công khai các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại các điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự cam kết không có tài liệu chứng cứ nào khác và tại phiên tòa các đương sự cũng không bổ sung thêm chứng cứ nào khác.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về yêu cầu bị đơn bà L trả số tiền nợ gốc 19.166.990 đồng:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng (áp dụng cho chủ thẻ là khách hàng cá nhân) ghi ngày 18/11/2020 của bà Bùi Thị Tuyết L, được Ngân hàng TMCP S1 ngày 19/11/2020, có cơ sở xác định Ngân hàng TMCP S và bà L có giao kết hợp đồng vay tài sản theo đó Ngân hàng cấp tín dụng cho bà L với mức cấp tín dụng là 16.000.000 đồng, lãi suất áp dụng là 2,6%/tháng, lãi được tính trên từng giao dịch theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng) và bà L phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 25 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng.
Theo trình bày của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa phù hợp với Tóm tắt sao kê cho thấy: Trong quá trình sử dụng thẻ, bà L đã giao dịch với tổng số tiền 24.647.535 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 17.441.846 đồng. Từ ngày 10/12/2022 đến nay, bà L đã không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Ngân hàng. Do đó ngày 10/02/2023, Ngân hàng chuyển toàn bộ khoản nợ 19.166.990 đồng của bà L sang nợ quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng.
Do bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên căn cứ Điều 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà L phải trả số tiền nợ gốc là 19.166.990 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[3.2]. Về yêu cầu trả tiền lãi:
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà L phải thanh toán khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền chậm thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng, tạm tính đến hết ngày 26/5/2024 là 12.485.268 đồng tiền lãi quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Điều 23 Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S: Buộc bà L phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc, lãi tính đến hết ngày 26/5/2024 tổng cộng là 31.652.258 đồng (trong đó nợ gốc là 19.166.990 đồng, nợ lãi quá hạn là 12.485.268 đồng) và thanh toán tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng các bên đã ký kể từ ngày 27/5/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn bà L phải chịu án phí phải chịu án phí sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự có giá ngạch với số tiền là: 1.582.613 đồng;
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí sơ thẩm nên được hoàn trả lại tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S:
Buộc bà Bùi Thị Tuyết L phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ nợ gốc, lãi tính đến hết ngày 26/5/2024, tổng cộng là 31.652.258 đồng (trong đó nợ gốc là 19.166.990 đồng, nợ lãi quá hạn là 12.485.268 đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng ngày 18/11/2020 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S.
Kể từ ngày 27/5/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, bà Bùi Thị Tuyết L còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng ngày 18/11/2020 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S. Trường hợp trong Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng ngày 18/11/2020 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP S thì lãi suất bà L phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP S theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP S.
2/ Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Bùi Thị Tuyết L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự có giá ngạch là 1.582.613 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hoàn lại cho Ngân hàng S số tiền 663.406 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0001484 ngày 18/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2014).
4/ Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hợi |
Bản án số 2077/2024/DS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 2077/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
