|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 207/2024/DS-ST
Ngày: 30/8/2024 .
V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Bích Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Minh Hiếu.
2. Ông Phạm Thanh Tâm.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hiến– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Không.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 153/2024/TLST-DS ngày 06/5/2024 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 352/2024/QĐXXST-DS, ngày 25 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 276/2024/QÐST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa:
* Nguyên đơn: Đặng Thị Bé N, sinh năm 1968; Địa chỉ: ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
* Bị đơn: Châu Thị Ngọc D. Địa chỉ: ấp A, thị trấn A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, qua xem xét lời khai và yêu cầu của các đương sự, qua xét hỏi trước tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:
* Theo đơn khởi kiện ngày 05/7/2023, nguyên đơn Năm trình bày:
Bà N làm chủ hụi, bà Châu Thị Ngọc D là hụi viên, tham gia các dây hụi do bà làm chủ. Sau khi hốt hụi, thì bà D không đóng tiền hụi chết cho bà, cụ thể như sau:
Dây 1: Hụi tháng 5.000.000 đồng, mở ngày 25/6/2022 âm lịch, có 21 phần, bà D tham gia 01 phần, trong danh sách hụi ghi tên "H T". Đến lần khui thứ hai, bà D hốt hụi, đóng hụi chết đến tháng 02 năm 2023 âm lịch (sau) thì ngưng cho đến nay, hiện nay dây hụi này đã mãn hụi và bà D còn thiếu 12 lần tiền hụi chết chưa đóng, tính thành tiền 60.000.000 đồng.
Dây 2: Hụi tháng 3.000.000 đồng, mở ngày 25/6/2022 âm lịch, có 21 phân, bà D tham gia 01 phần, trong danh sách hụi ghi tên "Trang Hòa". Đến lần khui hụi thứ 8, bà D hốt hụi, đóng hụi chết đến tháng 02 năm 2023 âm lịch (sau) thì ngưng cho đến nay, dây hụi này hiện nay đã mãn, bà D còn thiếu 12 lần hụi chết chưa đóng, tính thành tiền 36.000.000 đồng.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Châu Thị Ngọc D phải có nghĩa vụ trả số tiền hụi 96.000.000 đồng.
* Đối với bị đơn là Châu Thị Ngọc D: Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến nay, bà D không tham gia tố tụng, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án không thể thu thập được lời khai và yêu cầu của bà D.
Tại phiên tòa, bà N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn không có yêu cầu phản tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Theo nội dung yêu cầu khởi kiện, bà Đặng Thị Bé N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Châu Thị Ngọc D hoàn trả cho bà N số tiền hụi còn nợ là 96.000.000 đồng. Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án giải quyết, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng góp hụi là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Bị đơn bà Châu Thị Ngọc D có địa chỉ cư trú tại ấp A, thị trấn A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Châu Thị Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng vắng mặt không lý do và không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án.
[4] Nguyên đơn là bà Đặng Thị Bé N khởi kiện yêu cầu bị đơn là bà Châu Thị Ngọc D có nghĩa vụ trả cho bà số tiền nợ hụi là 96.000.000 đồng.
Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn D, nhưng bị đơn D không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau đó, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn tham dự phiên họp, hòa giải hai lần nhưng bị đơn không tham dự. Đồng thời, bà D không có văn bản trình bày ý kiến phản đối những yêu cầu nêu trên của nguyên đơn, nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Như vậy, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
[5] Theo Bản án số 221/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng giải quyết tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa nguyên đơn Đặng Thị Bé N và bị đơn Nguyễn Thị Diễm T1, Trần Tấn H cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Châu Thị Ngọc D, thì bà D thừa nhận “Các dây hụi mà bà Đặng Thị Bé N khởi kiện vợ chồng bà Nguyễn Thị Diễm T1, ông Trần Tấn H nêu trên, là do chính bà tham gia chơi hụi với bà N, trong các dây hụi này bà ghi tên là "Điềm Mi", "Hòa T1", "Trang Hòa" và bà đã hốt hết. Hiện nay, bà thừa nhận còn nợ bà B Năm tiền hụi chết, bà xin được trả dần” và theo Bản án số 73/2024/DS-PT ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã có hiệu lực, thì cũng thể hiện các dây hụi nêu trên đều do bà Châu Thị Ngọc D là hụi viên, tham gia chơi hụi do bà N làm chủ hụi, bà D đã hốt hụi nhưng không đóng tiền hụi chết đầy đủ cho bà N, nên bà N phải đóng tiền hụi chết thay cho bà D. Tính đến nay hai dây hụi nêu trên đã mãn hụi mà bà D chưa hoàn trả tiền hụi chết cho bà N, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà N nên bà N mới kiện đòi là có căn cứ.
Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ nhận định rằng: Giữa nguyên đơn và các bị đơn đã có giao dịch về tài sản dưới hình thức góp hụi với mục đích tương trợ, có hưởng huê hồng và tiền lãi được thực hiện theo quy định của pháp luật là có thật. Hợp đồng góp hụi giữa các đương sự được lập trên cơ sở tự nguyện của các bên, không trái đạo đức xã hội, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, khi giao kết hợp đồng thì các đương đều là những người có đủ năng lực hành vi dân sự nên giao dịch trên giữa các đương sự là hợp pháp.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 117 và Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Đặng Thị Bé N, buộc bị đơn là bà Châu Thị Ngọc D có nghĩa vụ hoàn trả cho bà N số tiền nợ hụi 96.000.000 đồng.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận; bị đơn không cung cấp được các giấy tờ chứng minh thuộc trường hợp được miễn nộp án phí nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, cụ thể: 96.000.000 đồng x 5% = 4.800.000 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 1 Điều 244; Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 117 và Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
TUYÊN XỬ:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn là bà Châu Thị Ngọc D có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn là bà Đặng Thị Bé N số tiền hụi còn nợ là 96.000.000 đồng.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bị đơn còn phải trả lãi cho nguyên đơn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bị đơn là bà Châu Thị Ngọc D phải chịu 4.800.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Nguyên đơn là bà Đặng Thị Bé N không phải chịu án phí sơ thẩm. Bà N được nhận lại 2.400.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003742 ngày 24/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Đặng Thị Bé N có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt là bà Châu Thị Ngọc D thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
|
Nơi nhận:
|
- Lưu hồ sơ vụ án |
Tô Thị Bích Duyên
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Hồ Thị Út | Trần Hoàng Bảy | Tô Thị Bích Duyên |
Bản án số 207/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 207/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa NĐ Đặng Thị Bé Năm với BĐ Châu Thị Ngọc Diễm
