|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 207/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 9 - 2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân: 1./ Ông Nguyễn Hưng
2./ Bà Trần Thị Liên
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hà – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Kiều Hồng Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án - Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 635/2024/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 180/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Kim Y, sinh năm 1989 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số G N, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Bị đơn: Ông Võ Trí D, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số F Y, buôn P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai nguyên đơn, bà Vũ Thị Kim Y trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Võ Trí D chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông vào ngày 13/01/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ: Số G N, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Đến tháng 12 năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng mâu thuẫn về kinh tế, ông D đi làm không đưa tiền cho tôi chăm sóc cho con cái và gia đình nên dẫn đến vợ chồng cãi nhau. Từ tháng 12 năm 2016 đến nay, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay tôi xác định vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi và ông Võ Trí D được ly hôn.
- Về con chung: Tôi và ông Võ Trí D có 01 con chung là cháu Võ Nhã U, sinh ngày 30/11/2015. Hiện nay cháu Võ Nhã U đang ở với tôi. Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay, ông Võ Trí D chu cấp nuôi con chung được 02 năm. Sau đó thì ông D không chu cấp nuôi con và cũng không thăm con.
Nguyện vọng của tôi về con chung là xin được nuôi cháu Võ Nhã U cho đến khi cháu U đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Tôi tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí.
Mặc dù bị đơn ông Võ Trí D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp việc kiểm tra giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng ông Võ Trí D vắng mặt, không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột trình bày:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ trông chấp, đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã tuân thủ đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 220, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ: Điểm a Khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Vũ Thị Kim Y.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị Kim Y được ly hôn với ông Võ Trí D.
Về con chung:
Giao Võ Nhã U, sinh ngày 30/11/2015 cho bà Vũ Thị Kim Y chăm sóc nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành.
Ông Võ Trí D có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Vũ Thị Kim Y yêu cầu ly hôn với ông Võ Trí D, địa chỉ cư trú tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Võ Trí D vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị Kim Y và ông Võ Trí D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông vào ngày 13/01/2015 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo Nguyên đơn trình bày do vợ chồng mâu thuẫn về kinh tế, ông D đi làm không đưa tiền cho tôi chăm sóc cho con cái và gia đình nên dẫn đến vợ chồng cãi nhau. Từ tháng 12 năm 2016 đến nay, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Bà Y xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với ông D.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền địa phương cho biết: “Anh Võ Trí D và chị Võ Thị Kim Y1 không nhờ ban tự quản tổ dân phố hòa giải nên tổ dân phố không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh chị.”
Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, việc bà Vũ Thị Kim Y xét thấy không còn tình cảm với ông Võ Trí D, vợ chồng không sống chung từ năm 2016, dẫn đến mâu thuẫn cuộc kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Vũ Thị Kim Y, cho bà Vũ Thị Kim Y được ly hôn với ông Võ Trí D.
[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Vũ Thị Kim Y và ông Võ Trí D có 01 con chung là Võ Nhã U, sinh ngày 30/11/2015.
Bà Y có nguyện vọng xin được nuôi cháu Võ Nhã U. Tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu U: Cháu U cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Nên Hội đồng xét xử xét thấy việc bà Y có nguyện vọng nuôi con là phù hợp với thực tế và đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao Võ Nhã U, sinh ngày 30/11/2015 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Vũ Thị Kim Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2.4] Về án phí: Nguyên đơn bà Vũ Thị Kim Y phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật, bị đơn ông Võ Trí D không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 220, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ: Điểm a Khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị Kim Y.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị Kim Y được ly hôn với ông Võ Trí D.
2. Về con chung:
Giao Võ Nhã U, sinh ngày 30/11/2015 cho bà Vũ Thị Kim Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).
Ông Võ Trí D có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.
5. Về án phí: Bà Vũ Thị Kim Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2023/0004972 ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Loan |
Bản án số 207/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 207/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
