|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 207/2023/HS-PT
Ngày: 26/12/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng.
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang và ông Đặng Văn Quyết.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến - Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 26/12/2023. tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 321/2023/TLPT-HS ngày 08/11/2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị T1 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T1 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 82/2023/HSST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Họ và tên: Nguyễn Thị T1 - sinh năm 1974
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ;
Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 10/12;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Con ông: Nguyễn Nhật D, sinh năm 1938
Con bà: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1947
Chồng: Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1973 (đã ly hôn);
Bị cáo có 01 con sinh năm 2009.
Gia đình có 04 chị, em, bị cáo là con thứ 3.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra trong vụ án còn có 02 bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa an không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 30 phút ngày 06/3/2023 tại nhà nghỉ “LUCKY” thuộc tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an huyện H bắt quả tang Nguyễn Thị T1, sinh năm 1974 là chủ nhà nghỉ có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” cho các đối tượng đến thuê phòng nghỉ. Tại thời điểm kiểm tra phát hiện 02 (hai) phòng đang có khách thuê đều có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể:
Tại phòng nghỉ ở tầng 1 gồm các đối tượng: Trần Tiến T3, sinh năm 1990 ở tổ dân phố số B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang ; Nguyễn Văn Q, sinh năm 1985 ở thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Dương Văn P, sinh năm 1998 ở thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Hà Thị T4, sinh năm 2004 ở thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang và Đỗ Thị T5, sinh năm 2004 ở thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Quá trình kiểm tra, bắt quả tang Cơ quan Công an thu giữ các vật chứng gồm: 01 đĩa sứ màu trắng, đường kính 31cm, trên bề mặt đĩa bám dính tinh thể màu trắng (được niêm phong trong hộp bìa cát tông ký hiệu “QT”); 01 tẩu làm bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng và 03 vỏ đầu lọc thuốc lá; 01 thẻ ngân hàng V mang tên NGUYEN THI THAM; 01 bật lửa gas màu xanh; 01 tờ giấy ăn màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ; 01 loa kéo (đã qua sử dụng); 01 đèn nháy nhiều màu; 01 đèn quay nhiều màu. Thu giữ trên người T1: tiền mặt: 1.600.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 03 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng); 01 điện thoại Iphone có số IMEI: 356760085909215 (được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT”); Thu giữ trên người Q: 01 điện thoại di động Iphone có số IMEI: 354428060973638 (được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT1”) và tiền mặt: 1.600.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 03 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng).
Tại phòng nghỉ 204 gồm các đối tượng: Vũ Thị M, sinh năm 1991, trú tại: Thôn D, xã D, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Văn M1, sinh năm 1994 ở Thôn D, xã D, huyện H, tỉnh Bắc Giang và Nguyễn Văn G, sinh năm 1989 ở Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Quá trình kiểm tra Cơ quan Công an thu giữ các vật chứng gồm: 01 mảnh giấy bạc có kích thước 3x9,5cm, trên một mặt của mảnh giấy bạc bám dính chất màu nâu, nghi là ma túy (được niêm phong trong phong bì ký hiệu “HC”); 01 vỏ chai nhựa có nhãn hiệu Number1, có nắp được đục lỗ gắn các đoạn ống nhựa màu vàng, hồng và một đầu đoạn ống nhựa có quấn giấy bạc; 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 đĩa sứ màu trắng, đường kính 31cm trên bề mặt có bám dính tinh thể màu trắng nghi là ma túy và 01 vỏ sim V1 (được niêm phong trong hộp bìa cát tông ký hiệu “HC2”); 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (được niêm phong trong phong bì ký hiệu “HC1”); (bút lục 71). Ngoài ra, M, G và M1 giao nộp 01 loa xách tay nhãn hiệu Harman/Kardon màu đen; 02 đèn nháy màu đen, ký hiệu Party Light; 01 củ sạc loa màu đen nhãn hiệu Sony 19.5v; 01 ổ cắm điện màu đen là tang vật có sẵn trong phòng 204.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Thị T1. Kết quả: Tại phòng ngủ của T1 thu giữ: 01 áo khoác dạ màu hồng được treo trong tủ quần áo, tại túi áo bên trái có 01 lọ nhựa có nắp đậy, bên ngoài ghi chữ “Xyliton” bên trong có chứa 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX”); 01 CCCD mang tên Nguyễn Thị T1; Số tiền 2.800.000 đồng (gồm 14 tờ 200.000đồng); 01 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mang tên Nguyễn Thị T1; 01 giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự ngày 21/02/2022. T1 khai nhận tinh thể màu trắng trong lọ nhựa là ma túy Ketamine của T1; số tiền 2.800.000 đồng là số tiền T1 bán ma túy cho Q mà có.
Ngay sau khi kiểm tra và bắt quả tang các đối tượng Cơ quan Công an tiến hành thu các mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn Q, Trần Tiến T3, Dương Văn P, Hà Thị T4, Đỗ Thị T5 và Nguyễn Thị T1 niêm phong trong các chai nhựa lần lượt ký hiệu “M1”, “M2”,“M3”, “M4”, “M5”, “М6”. Các mẫu nước tiểu của Vũ Thị M, Nguyễn Văn M1 và Nguyễn Văn G thu giữ đựng trong các chai nhựa được ghi tên rồi niêm phong trong hộp bìa cát tông ký hiệu “HC4”.
Ngày 07/3/2023, Hà Thị T4 giao nộp 02 video được trích xuất từ điện thoại Iphone của T4. Sau đó 02 video được sao ra đĩa DVD-R và niêm phong trong phong bì ký hiệu DVD.
Ngày 07/3/2023, Nguyễn Văn M1 đã tự thú về hành vi phạm tội của mình; Vũ Thị M đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành thực nghiệm điều tra đối với M và M1 về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Kết quả: M và M1 đã tự thực hiện lại hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra.
Ngày 13/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành thực nghiệm điều tra đối với T1 về hành vi cung cấp công cụ, phương tiện và bán ma tuý cho các đối tượng. Kết quả: T1 đã tự thực hiện lại hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra.
Ngày 07/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 64/QĐ trưng cầu giám định số vật chứng nghi là ma tuý thu tại tầng 1 và các mẫu nước tiểu thu của các đối tượng trong phòng nghỉ ở tầng 1. Tại bản kết luận giám định số: 417/KL-KTHS ngày 14/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
-
"5.1. Trong 01 (một) hộp bìa cát tông ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định:
Chất tinh thể màu trắng bám dính trên bề mặt đĩa sứ màu trắng là ma túy loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
-
5.2. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX” được niêm phong gửi giám định:
Chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,394 gam.
-
5.3. Các mẫu nước tiểu niêm phong gửi giám định:
Trong các chất lỏng (nước tiểu) của Hà Thị T4, Đỗ Thị T5 và Nguyễn Thị T1 được đựng trong các chai nhựa có ký hiệu lần lượt là “M4”, “M5”, “M6”, đều không tìm thấy chất ma tuý.
Trong các chất lỏng (nước tiểu) của Nguyễn Văn Q, Trần Tiến T3 và Dương Văn P được đựng trong các chai nhựa có ký hiệu lần lượt là “M1”, “M2”, “M3”, đều tìm thấy N, D1 và chất ma túy MDMA.
(Norketamine và D1 là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy ketamine trong cơ thể).
Ngày 07/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Quyết định trưng cầu giám định số 66/QĐ trưng cầu giám định số vật chứng nghi là ma tuý thu giữ tại phòng 204 và các mẫu nước tiểu thu của các đối tượng ở phòng 204. Tại bản kết luận giám định số: 418/KL-KTHS ngày 14/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
-
“5.1. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “HC” được niêm phong gửi giám định:
Chất màu nâu bám dính trên 01 (một) mảnh giấy bạc có kích thước (3x9,5)cm là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,019gam.
-
5.2. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “HC1” được niêm phong gửi giám định:
Chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,483 gam.
-
5.3. Trong 01 (một) hộp bìa cát tông ký hiệu “HC2” được niêm phong gửi giám định:
Chất tinh thể màu trắng bám dính trên bề mặt đĩa sứ màu trắng có đường kính 31cm là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
Trên 01 (một) thẻ sim Viettel bằng nhựa có chất ma túy Ketamine bám dính, không xác định được khối lượng mẫu.
-
5.4 Các mẫu nước tiểu được niêm phong gửi giám định:
Trong các mẫu chất lỏng (nước tiểu) được đựng trong các chai nhựa nhãn hiệu Lavie, có ký hiệu “Vũ Thị M, 1991”, “Nguyễn Văn M1, 1994”, “Nguyễn Văn G” đều tìm thấy N, D1 và chất ma túy Methamphetamine.
(Norketamine và D1 là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy ketamine trong cơ thể).”
Ngày 07/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Quyết định trưng cầu giám định số 67/QĐ trưng cầu giám định thu lượm dấu vết đường vân trên đĩa sứ niêm phong trong phong bì “HC2” và có Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 02/QĐ ngày 06/4/2023 giám định dấu vết đường vân thu được so với các chỉ bản của T1, M, M1, G. Tại bản kết luận giám định số: 419/KL-KTHS ngày 14/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Trên đĩa sứ màu trắng phát hiện 02(hai) dấu vết đường vân, thể hiện rõ đặc điểm, đủ yếu tố giám định ký hiệu số 1 và số 2”.
Tại bản kết luận giám định số: 678/KL-KTHS ngày 14/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- “1. Dấu vết đường vân ký hiệu số 1 phát hiện trên đĩa sứ màu trắng kèm theo kết luận giám định số 419/KL-KTHS ngày 14/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh B với dấu vân in ở ô “Giữa trái” trên chỉ bản ghi tên Nguyễn Văn G là của cùng một người.
- 2. Dấu vết đường vân ký hiệu số 2 phát hiện trên đĩa sứ màu trắng kèm theo kết luận giám định số 419/KL-KTHS ngày 14/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh B với dấu vân in ở ô “Cái trái” trên chỉ bản ghi tên Nguyễn Văn G là của cùng một người.” (bút lục 249).
Ngày 06/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Quyết định trưng cầu giám định số 90/QĐ trưng cầu giám đoạn video có bị cắt, ghép không. Tại bản kết luận giám định số: 418/KL-KTHS ngày 14/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
-
“1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong 02 file video lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định sau:
- -File video có tên “IMG_8246.MOV"; dung lượng 298MB; thời lượng 01 phút 22 giây;
- -File video có tên “IMG_8249.MOV”; dung lượng 598MB; thời lượng 02 phút 45 giây;
- 2. Trích xuất được 30 hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong các file video gửi giám định”.
Quá trình điều tra xác định:
Về hành vi phạm tội và nguồn gốc số ma túy của bị cáo T1:
Quá trình kinh doanh nhà nghỉ, T1 biết một khách đến thuê phòng tên là H ở huyện V, tỉnh Bắc Giang ngoài ra không biết gì về nhân thân, lai lịch của H. Khoảng cuối tháng 02 năm 2023, H đến nhà nghỉ và nói với T1 là H có ma túy tổng hợp dạng kẹo, ke bán, hỏi T1 có mua không? T1 nảy sinh ý định mua ma túy để bán cho khách nghỉ và thuê phòng tại nhà nghỉ của mình. Sau đó, T1 mua của H 04 viên ma túy dạng kẹo và 2,5 chỉ ma túy ke hết 4.200.000 đồng. Thắm cất số ma túy này vào túi áo dạ màu hồng của T1 treo trong tủ kê ở phòng ngủ của T1, sau đó chuẩn bị loa, đèn nháy, đĩa, thẻ ATM ở trong phòng. Đến 20 giờ 30 phút ngày 06/3/2023 thì bị bắt quả tang khi đang tổ chức sử dụng ma túy cho các đối tượng đến thuê phòng.
Đối với hành vi sử dụng ma tuý tại phòng nghỉ ở tầng 1 xác định:
Khoảng 17 giờ ngày 06/3/2023, Trần Tiến T3, Nguyễn Văn Q và Dương Văn P cùng rủ nhau góp tiền mua ma túy và cùng sử dụng ma túy tại nhà nghỉ “LUCKY”. Sau đó, T3, Q và P rủ thêm Hà Thị T4 và Đỗ Thị T5 cùng đi taxi đến nhà nghỉ “LUCKY” thuê phòng để sử dụng ma túy thì được T1 cho thuê phòng nghỉ sát cầu thang ở tầng 1, trong phòng đã có sẵn loa kéo, đèn nháy, đèn quay để phục vụ việc sử dụng trái phép chất ma túy. Tại đây, Q, T3, P mỗi người bỏ ra 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) và thống nhất mua của T1 03 (ba) viên ma túy kẹo và 01 (một) chỉ ma túy ke để sử dụng. Một lát sau, T1 đi vào phòng mang theo 01 đĩa sứ, 01 tẩu làm bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng, 03 vỏ đầu lọc thuốc lá và 01 thẻ ATM của ngân hàng V mang tên NGUYEN THI THAM rồi để xuống đệm ngay sát cửa phòng. Q, T3, P thông nhất hỏi mua của T1 số lượng ma túy như đã bàn. Khoảng 10 phút sau, T1 vào phòng rồi mang theo : 01 tờ giấy ăn màu trắng chứa 03 viên ma túy dạng kẹo và 01 túi nilon chứa ma túy ke rồi để trên đệm kê trong phòng nghỉ. Q lấy tiền góp chung đưa cho T1 2.800.000 đồng. Sau đó, Q, T3, P mỗi người tự lấy 01 viên ma túy kẹo rồi tự sử dụng. Sau khi dùng hết ma túy dạng kẹo thì Q, T3, P lần lượt tự lấy ma túy ke đổ ra đĩa, dùng thẻ ATM gạt mỏng ma túy trên đĩa ra rồi dùng tẩu hít hết số ma túy đổ ra đĩa vào trong cơ thể rồi nghe nhạc. Khi đã sử dụng hết số ma túy vừa mua thì Q, T3 và P thống nhất mua thêm của T1 nửa chỉ ke nữa để sử dụng. Một lát sau, T1 mang 01 túi nilon chứa ma túy ke vào trong phòng và để cạnh vị trí Q ngồi. Thắm báo giá 800.000 đồng tiền ma túy và 800.000 đồng tiền phòng. Q tiếp tục lấy tiền góp chung đưa cho T1 số tiền 1.600.000 đồng rồi Q, T3, P tiếp tục tự sử dụng hết ma túy ke thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, bắt quả tang.
Đối với phòng nghỉ 204, quá trình điều tra xác định:
Khoảng 15 giờ ngày 06/3/2023, Vũ Thị M đi taxi một mình từ L, Hà Nội về H, Bắc Giang. Khi đi đến đoạn gần chân cầu Đ thuộc huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, M xuống xe taxi và đi bộ một mình vào một ngõ nhỏ khoảng 50 mét gặp một người phụ nữ không quen biết, M đưa cho người phụ nữ 100.000đ (một trăm nghìn đồng) hỏi mua của người này 01 (một) viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến và ma túy đá. Người phụ nữ cầm tiền, đưa cho M 01 (một) tờ giấy ăn màu trắng bên trong chứa 01 (một) viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến và một ít ma túy đá. M nhận ma túy cất giấu vào túi quần phải M đang mặc và tiếp tục đi taxi về nhà nghỉ “LUCKY”. Sau khi mua được ma túy, trên đường về M nhận được điện thoại của Nguyễn Văn M1, qua điện thoại M hẹn gặp M1 tại nhà nghỉ “LUCKY”. Đến nhà nghỉ “LUCKY”, M xuống xe đi đến cửa nhà nghỉ thì gặp Nguyễn Văn G và Nguyễn Thị T1 (chủ nhà nghỉ). T1 bảo G và M lên phòng 202. Một lát sau, M1 đến đi lên phòng 202 gặp G, M. Tại đây, các đối tượng ăn cơm xong thì M1 hỏi M: chị có đồ không? (ý hỏi M có ma túy không). M bảo có và bảo M1 chuẩn bị chai nhựa để sử dụng ma túy. M1 lấy ở gầm giường phòng 202 có một chai nhựa, trên nắp đục lỗ và cắm các ống hút nhựa, cùng lúc này T1 gõ cửa phòng bảo G, M, M1 sang phòng 204 cho rộng. G, M, M1 đồng ý chuyển sang phòng 204 như T1 bảo. Khi ra khỏi phòng 202, M1 cầm theo chai nhựa có cắm các ống hút và xuống tầng 1 khu vực quầy lễ tân lấy hỏi T1 để giấy bạc sử dụng ma túy, M và G sang phòng 204 khi vào trong phòng đã thấy trong phòng có loa, đèn, đĩa sứ, vỏ thẻ sim điện thoại. Tại phòng 204, M lấy ma tuý mà M mua trước đó cất giấu trong túi quần phải đang mặc đưa cho M1, M1 cầm giấy bạc, đổ ma túy lên giấy bạc, dùng bật lửa đốt bên dưới giấy bạc cho ma túy tan chảy thành khói bay qua 01 ống nhựa trên nắp chai. Khói ma túy chui vào trong chai nhựa M1, M, G lần lượt thay phiên nhau ngậm ống nhựa còn lại trên nắp chai, hít khói có ma túy và nghe nhạc, cứ như vậy được 02 lượt thì hết ma túy. Sau khi sử dụng hết số ma túy của M cả ba người nghe nhạc trong phòng. Một lát sau, M hỏi M1 và G có sử dụng ma túy kẹo, ke nữa không? M1, G đều bảo có và thống nhất để M mua thêm 01 viên ma túy dạng kẹo và nửa chỉ ma túy dạng ke để cùng nhau sử dụng. M xuống tầng 1 gặp T1 và hỏi mua của T1 01 viên ma túy kẹo, nửa chỉ ma túy ke, T1 đồng ý và bảo mang lên sau, M và T1 chưa nói gì đến giá tiền. M về phòng nói với M1 và G là T1 mang ma túy lên sau. M vào nhà tắm để tắm, gội đầu. Một lát sau, T1 lên phòng 204 mang theo 01 tờ giấy ăn màu trắng bên trong có 01 viên ma túy dạng kẹo và 01 túi nilon chứa ma túy ke rồi để ở đĩa trên giường. M1, G lúc này ngồi nghịch điện thoại, G có mở gói giấy ăn trong có ma túy ra để trên đĩa chờ M tắm giặt song ra cùng sử dụng. Khi Cơ quan Công an gõ cửa kiểm tra thì M cầm đĩa sứ, trên đĩa có túi nilon chứa ma túy ke và 01 viên ma túy kẹo rồi để dưới gầm giường. Khi Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện thu giữ đĩa sứ, túi nilon chứa ma túy ke, dụng cụ để sử dụng ma túy và các tang vật khác có liên quan.
Cáo trạng số 80/CT-VKS-HH ngày 08/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thắm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự;
Vũ Thị M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự;
Nguyễn Văn M1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 82/2023/HSST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm a,b khoản 2, khoản 5 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 08 (tám) năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 08(tám) năm tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt bị cáo T1 phải chấp hành là 16 ( mười sáu) năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 07/3/2023.
Phạt bổ sung bị cáo T1 10( mười) triệu đồng đối với tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” và 50( năm mươi) triệu đồng đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 09/10/2023 bị cáo Nguyễn Thị T1 có đơn kháng cáo với nội dung: đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Lý do: bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm là 10.200.000 đồng; ông Nguyễn Nhật D (bố đẻ của bị cáo) là thanh niên xung phong; bà Nguyễn Thị T2 (mẹ đẻ của bị cáo) là thương binh hạng 4/4 (33%) được lĩnh tiền ưu đãi hàng tháng của sơ lao động thương binh và xã hội cho gia đình; cháu Nguyễn Ánh Khánh L (con đẻ của bị cáo) đạt học sinh giỏi các năm lớp 6A1, 7A1, 8A1 và được Phòng giáo dục và đào tạo huyện H chứng nhận đã đạt giải nhất môn Tiếng Anh lớp 6, giải nhì môn Tiếng Anh lớp 7, 8.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T1.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo T1 phải chấp hành là 14 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 07/3/2023.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị T1 đã nộp số tiền 10.200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và tiền phạt bổ sung.
Bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về nhà nuôi dạy con cái, chăm sóc mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T1 nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo cần được chấp nhận để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Về hành vi phạm tội: Xét lời khai của bị cáo T1 tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định; lời khai của người làm chứng, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố. Những tài liệu, chứng cứ này phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi phạm tội. Do đó có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/3/2023, tại nhà nghỉ “LUCKY” của Nguyễn Thị T1 tổ công tác Công an huyện H bắt quả tang các đối tượng đang có hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, cụ thể:
Nguyễn Thị T1 đã 02 lần bán trái phép tổng 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền ma tuý cho Trần Tiến T3 và bán trái phép 0,483 gam ma tuý loại Ketamine cho Vũ Thị M. Ngoài ra, quá trình khám xét nơi ở của T1 thu giữ 0,394 gam ma tuý loại Ketamine, T1 khai tàng trữ có người mua thì bán. Sau đó, T1 đã cung cấp công cụ, phương tiện để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho nhóm của T3 gồm: Trần Tiến T3, Nguyễn Văn Q; nhóm của M gồm: Vũ Thị M, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn G tại nhà nghỉ của mình.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Bản án sơ thẩm căn cứ vào tính chất nguy hiểm hành vi phạm tội bị cáo gây ra, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 08 (tám) năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08(tám) năm tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội.
- [3] Xét kháng cáo của bị cáo:
Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, bị xã hội lên án. Do vậy, việc áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo là cần thiết. Tuy nhiên sau khi án sơ thẩm xử xong, bị cáo đã tác động gia đình nộp 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm; ông Nguyễn Nhật D (bố đẻ của bị cáo) là thanh niên xung phong; bà Nguyễn Thị T2 (mẹ đẻ của bị cáo) là thương binh hạng 4/4 (33%) được lĩnh tiền ưu đãi hàng tháng của sơ lao động thương binh và xã hội cho gia đình; cháu Nguyễn Ánh Khánh L (con đẻ của bị cáo) đạt học sinh giỏi các năm lớp 6A1, 7A1, 8A1 và được Phòng giáo dục và đào tạo huyện H chứng nhận đã đạt giải nhất môn Tiếng Anh lớp 6, giải nhì môn Tiếng Anh lớp 7, 8. Do vậy cần áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, tại cấp phúc thẩm có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thị T1 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật
- [4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo bị cáo Nguyễn Thị T1 được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- [5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T1. Sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm b khoản 2,5 Điều 251; điểm a,b khoản 2, khoản 5 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt bị cáo T1 phải chấp hành là 14 (mười bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 07/3/2023.
Phạt bổ sung bị cáo T1 10 (mười) triệu đồng đối với tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” và 50 (năm mươi) triệu đồng đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị T1 đã nộp 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0000289 ngày 01/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Nguyễn Thị T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 207/2023/HS-PT ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (về tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 207/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tổ chức sử dụng trái phép ma túy
