|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 207/2024/HS-ST Ngày 23-09-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Văn Bình
Bà Phạm Thị Thanh Hiên
- Thư ký phiên toà: Ông Phùng Hoàng Phú - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 215/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 09 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 838/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 09 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Văn T, sinh ngày 29 tháng 09 năm 1989 tại Thái Bình. Nơi cư trú: Số D Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T1 và bà Lê Thị H; có vợ là Phạm Thị A và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 16/05/2024; tạm giam ngày 24/05/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 16/5/2024, tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L, Hải Phòng làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực cửa nhà số E Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng thì phát hiện Vũ Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiểm soát: 15B3-320.36 có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tiến hành kiểm tra, T đã thả từ lòng bàn tay trái xuống đất ngay sát chân trái của T 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là H1. Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 điện thoại di động Samsung màu xanh đã qua sử dụng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển kiểm soát: 15B3 - 320.36. Sau đó, tổ công tác đưa T cùng toàn bộ vật chứng thu giữ về trụ sở Công an quận L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Kết luận giám định số 604/KL-KTHS ngày 23/05/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng trong 01 gói giấy màu trắng thu giữ của T là ma túy, có khối lượng 0,22 gam, loại Heroine.
Tại cơ quan điều tra, Vũ Văn T khai nhận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 16/5/2024, T điều khiển xe mô tô đi từ nhà đến khu vực bờ đê V, quận L, thành phố Hải Phòng để tìm mua Heroine về sử dụng. Khi đi đến ngôi nhà thuộc bờ đê phường V (Trưởng không nhớ rõ số nhà), T dừng xe lại, thấy cửa sắt ngôi nhà mở hé, Trưởng gõ cửa thì nhìn thấy nam giới ngó đầu ra, do T đã từng mua ma túy của người này nên biết tên là N. T hỏi mua 200.000 đồng Heroine thì N nhận tiền rồi đưa lại cho T 01 gói Heroine được gói bằng giấy màu trắng, T cầm ở lòng bàn tay trái rồi đi về đến khu vực trước cửa nhà số E Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng thì bị bắt giữ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã đưa T đi chỉ ngôi nhà đã mua ma túy và xác định là nhà số D N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng. Kết quả xác minh, tại căn nhà trên có Đỗ Hoàng N1, sinh năm 1961 và Phạm Thị T2, sinh năm 1965 sinh sống. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của N1 và T2. Tại thời điểm khám xét, T2 tự lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng (mẫu QT1) và 01 túi nion chứa tinh thể màu trắng (mẫu QT2) giao nộp cho cơ quan Công an. Ngoài ra, quá trình khám còn thu giữ:
-Tại nền nhà: 01 hộp nhựa hình trụ tròn kích thước 2,5cm x 03cm bên trong có 01 gói giấy màu trắng kích thước 01cm x 0,5cm chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy (Mẫu KX1); 01 hộp nhựa hình trụ tròn kích thước 06cm x 3,5cm bên trong có: 02 gói giấy màu vàng kích thước 01cm x 0,5 cm chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy (Mẫu KX2); 11 gói giấy màu trắng kích thước 01 cm x 0,5cm bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy (Mẫu KX3); 05 túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 02cm x 1,5cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy (Mẫu KX4); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá bằng chai nhựa có gắn 01 tẩu thủy tinh bên trong tầu thủỷ tinh còn tạp chất màu đen (Mẫu KX5).
- Thu trên móc quần áo 01 chiếc túi xách bên trong có 01 túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 02cm x 1,5cm chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy (Mẫu KX6).
Sau đó Cơ quan điều tra đã lập biên bản và đưa N1, T2 về trụ sở Công an quận L để làm rõ sự việc.
Tại bản Kết luận giám định số 609/KL-KTHS ngày 23/5/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:
- Chất bột màu trắng của mẫu QT1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,06gam, loại: Heroine.
- Chất tinh thể màu trắng của mẫu QT2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,20gam, loại Methamphetamine.
Tại bản Kết luận giám định số 610/KL-KTHS ngày 23/5/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:
- Chất bột màu trắng của mẫu KX1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,10gam, loại Heroine.
- Chất bột màu trắng của mẫu KX2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,14gam, loại Heroine.
- Chất bột màu trắng của mẫu KX3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,90gam, loại Heroine.
- Chất tinh thể màu trắng của mẫu KX4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,90gam, loại Methamphetamine.
- Chất màu đen bám dính trong tẩu thuỷ tinh của mẫu KX5 gửi giám định là ma tủy, loại Methamphetamine; không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma tuý bám dính trên.
- Chất tinh thể màu trắng của mẫu KX6 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,23 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra Đỗ Hoàng N1 và Phạm Thị T2 khai nhận: Số ma túy thu giữ tại nhà số D N là của T2, T2 mua về để sử dụng và cho N1 cùng sử dụng. N1 và T2 đều khai không có quan hệ với T và không bán ma túy cho T. Kết quả đối chất với T, cả N1 và T2 đều giữ nguyên lời khai.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15B3-320.36 thu giữ của T, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Đối với hành vi của Đỗ Hoàng N1 và Phạm Thị T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định khởi tố vụ án số 156 ngày 24/5/2024. Quá trình điều tra, sẽ tiếp tục củng cố chứng cứ, làm rõ hành vi có dấu hiệu phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý của T2 và N1 đối với Vũ Văn T.
Đối với số H1 và M cùng một số vật chứng khác thu giữ tại nhà số D N, quận L, thành phố Hải Phòng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L đang điều tra, xử lý trong vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với Phạm Thị T2 và Đỗ Hoàng N1.
Tại Cáo trạng số 226/CT-VKS ngày 09 tháng 09 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận L đã truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Văn T mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì thư số 604MT/PC09.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý:
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng, báo cáo bắt giữ, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 16/5/2024, tại khu vực cửa nhà số E Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng, bị cáo Vũ Văn T bị bắt quả tang có hành vi cất giữ trái phép 0,22gam Heroine để sử dụng. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại xấu đến sức khỏe con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Heroine là chất ma tuý nằm trong danh mục quản lý của Nhà nước, cấm cất giữ, lưu hành dưới mọi hình thức; nhưng để thỏa mãn nhu cầu của mình, bị cáo đã cố ý cất giữ trái phép để sử dụng. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Nhân thân bị cáo chưa tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
- Về hình phạt bổ sung:
[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[8] Số ma tuý mà cơ quan Công an thu giữ khi bắt giữ bị cáo, sau khi lấy đi giám định, lượng còn lại xét là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ;
[9] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh thu giữ của bị cáo; quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, cần trả lại cho bị cáo.
- Về án phí:
[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 05 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu huỷ lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì thư số 604 MT/PC09
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh có số Imei 353748820842273
(Theo đúng Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 10 tháng 09 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩ Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hương |
Bản án số 207/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 207/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy
