|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 207/2024/HS-ST
Ngày 29 – 11 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Hoàng Sơn.
Ông Huỳnh Minh Bền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Nin – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 212/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 206/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Phương V, T gọi khác: Không; sinh ngày: 01/01/1986, tại Cà Mau; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn H (chết), con bà: Nguyễn Mỹ D; Anh chị em ruột: 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Hồ Thị Ngọc Đ, con: 02 người; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 lần, tại bản án hình sự số 12/2023/HS – ST ngày 14/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt Trần Phương V 01 năm 03 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/10/2023, phần án phí chấp hành xong ngày 23/6/2023; Nhân thân: Tại quyết định số 284/2019/QĐ – TA ngày 12/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 06/01/2021.
Bị tạm giữ ngày 18/7/2024 đến ngày 27/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ ngày 18/7/2024, lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh C kết hợp với Công an phường 8 thành phố C tuần tra khu vực khóm B, phường H, thành phố C phát hiện Trần Phương V đi bộ ra khỏi hẻm B có biểu hiện nghi vấn nên lực lượng ra hiệu lệnh kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong túi nhỏ phía trước bên phải quần Jean đang mặc trên người của V có 03 gói giấy bạc, bên trong mỗi gói đều có chứa cất bột màu trắng, dạng rắn nghi là ma túy, nên lực lượng công an tiến hành thu giữ và niêm phong ký hiệu M.52/2024 theo quy định.
Qua làm việc, Trần Phương V thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng.
Tại biên bản thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy, đối với Trần Phương Vũ dương T1 với ma túy.
Tại kết luận giám định số 411/KL - KTHS ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Phòng K công an tỉnh C kết luận: Tinh thể màu trắng trong bọc 03 gói giấy bạc, được niêm phong trong phong bì hình chữ nhất ký hiệu M.52.2024 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0.2303 giam, loại: Heroine (H1).
Tại cáo trạng số 203/CT – VKS ngày 30 tháng 10 năm 2024 truy tố bị cáo Trần Phương V về tội “Tàng trữ trái phép ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Phương V theo cáo trạng số: 203/CT – VKS ngày 30 tháng 10 năm 2024 và đề nghị:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Phương V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Phương V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2024.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu số 411/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh C để tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án là phù hợp.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố, không oan, không sai nên thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến gì khác. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Trong quá trình điều tra, tuy tố, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với kết luận giám định và cùng nhiều tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 15 giờ, ngày 18/7/2024, tại khóm B, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép trọng lượng là 0.2303 giam, loại: Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an tỉnh C kết hợp với Công an phường H, thành phố C bắt quả tang cùng tang vật.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma tuý. Ma túy gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, đời sống của con người, làm suy thoái nòi giống và là nguyên nhân gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo còn gây mất an ninh trật tự trên địa bàn thành phố C.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, có đủ cơ sở kết luật: Hành vi của bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân xấu, có một tiền án, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, bị cáo có ông ngoại và cậu ruột là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng hạn nhất đây là những tình tiết để giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Nhưng dù có giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu và có một tiền án và có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, nên cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi bị cáo đã gây ra nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời nhằm cảnh báo, tuyên truyền với những ai không chấp hành quy định của pháp luật, gây tác hại đến sức khỏe con người, làm ảnh hưởng xấu đến xã hội, nhằm phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[5] Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì hoàn mẫu số 411/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh C là phân bì giấy, không còn ma túy nên cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án là phù hợp.
[6] Đối với người phụ nữ khoảng 18 tuổi bán ma túy theo lời khai của bị cáo hiện chưa xác định được nhân thân, nên chưa làm việc được, nên giao Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố C tiếp tục xác minh làm rõ nếu có căn cứ xem xét xử lý sau là phù hợp.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Phương V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Phương V 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/07/2024.
- Về xử lý vật chứng: 01 Phong bì số 411/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh C tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
(Đã ký) |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn L |
Bản án số 207/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 207/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo bị xử phạt tù.
