Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 207/2024/HS-ST

Ngày       : 21/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Ngọc Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Phạm Thị Lan
  • 2. Bà Phạm Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký tòa án nhân dân quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lâm Như Quỳnh - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 231/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 289/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

PHẠM XUÂN BẢO M; sinh năm 1981 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: đường D, tổ dân phố B, khu phố C, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Xuân A (chết) và bà: Phạm Thị L, sinh năm 1952; Vợ: Cao Thị Y, sinh năm 1986; Con: 02 người; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 65/2011/HS-ST ngày 03/6/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Quyết định số 5533/QĐ-UBND ngày 27/11/2013 của Ủy ban nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh trong thời hạn 24 tháng; Tạm giữ, tạm giam: 10/7/2024 (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 50 phút ngày 10/7/2024, tại trước địa chỉ đường Đ, Phường D, quận Tân Bình, Tổ tuần tra 363 số 2 Công an quận Tân Bình kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang Phạm Xuân Bảo M đang điều khiển xe máy Honda Vision biển số 59D2-284.81, có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy trong người để sử dụng; thu giữ 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng (mẫu m) trong túi áo trước ngực bên phải của M đang mặc. Tại bản Kết luận giám định số 8313/KL-KTHS ngày 18/7/2024 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: mẫu m là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,7441 gam, loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Xuân Bảo M khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 10/7/2024, Phạm Xuân Bảo M điều khiển xe máy biển số 59D2-284.81 đến đầu hẻm X đường E, Phường F, Quận 10 để mua 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng là Heroine với số tiền 700.000 đồng của người phụ nữ tên “Bà T1” (chưa rõ lai lịch) với mục đích để sử dụng. Sau đó, M cất giấu 01 gói nylon chứa ma túy Heroine vào trong túi áo trước ngực bên phải của M đang mặc rồi M điều khiển xe máy về nhà. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 10/7/2024, M điều khiển xe máy biển số 59D2-284.81 đến trước đường Đ, Phường D, quận Tân Bình thì bị Cơ quan Công an kiểm tra hành chính, bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 2559/24 và chữ ký giám định viên Bùi Công Danh (mẫu vật còn lại sau giám định).
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu trắng.
  • - 05 ống kim tiêm, 02 hủ nhựa có nắp màu vàng.
  • - 01 xe máy hiệu Honda Vision biển số 59D2-284.81, qua xác minh chủ sở hữu xe là Phạm Xuân Bảo M.

Đối với đối tượng tên “bà T1” bán ma túy cho Phạm Xuân Bảo M, do không rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình không có cơ sở điều tra, xử lý.

Tại bản cáo trạng số 229/CT-VKS ngày 21 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Phạm Xuân Bảo M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng vụ án, đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận, không bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Phạm Xuân Bảo M, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận vào bị cáo Phạm Xuân Bảo M có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,7441 gam, loại Heroine với mục đích để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ là hành vi xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy trong thanh thiếu niên và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ tác hại của việc cất giấu chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc, nhưng chỉ vì thoả mãn cơn nghiện mà bị cáo đã bất chấp tất cả, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng, nhân thân bị cáo là xấu, đã bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh mà vẫn tái nghiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm nhằm mục đích cải tạo, giáo dục, tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện một cách triệt để, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về tang vật vụ án:

  • - 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 2559/24 và chữ ký giám định viên Bùi Công Danh (mẫu vật còn lại sau giám định) là ma túy còn lại sau khi giám định, Hội đồng xét xử xét đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, số IMEI:358611744556897 gắn sim số 0907084277 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • - 05 ống kim tiêm, 02 hủ nhựa có nắp màu vàng là vật dụng bị cáo sử dụng ma túy, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 xe máy hiệu Honda Vision biển số 59D2-284.81 bị cáo là chủ sở, bị cáo sử dụng xe làm phương tiện mua ma túy nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[1] Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân Bảo M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: PHẠM XUÂN BẢO M 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 10/7/2024.

[2] Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 2559/24 và chữ ký giám định viên Bùi Công Danh là ma túy còn lại sau khi giám định; 05 ống kim tiêm và 02 hủ nhựa có nắp màu vàng.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe máy hiệu Honda Vision biển số 59D2-284.81.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, số IMEI:358611744556897 gắn sim số 0907084277.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 17/BB/2025 ngày 30/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình).

[3] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Công an quận Tân Bình;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trương Ngọc Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 207/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 207/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vào bị cáo Phạm Xuân Bảo M có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,7441 gam, loại Heroine với mục đích để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger