|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 207/2024/DS-PT
Ngày: 12 - 9 - 2024
“V/v tranh chấp thừa kế
quyền sử dụng đất và nhà ở”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông | Nguyễn Văn Dũng |
| Các Thẩm phán: Ông | Nguyễn Thành Đăng |
| Bà | Đặng Thị Ánh Bình |
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hưng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Ông Phan Thanh Hào - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 196/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024 về "Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở ".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2024/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 227/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà P T X, sinh năm 1959 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm 2, thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. - Bà P T K, sinh năm 1963 (có mặt).
Địa chỉ: ấp Long Hòa 1, xã Long Mỹ, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. - Bà P T B, sinh năm 1965.
Địa chỉ: ấp cầu Ván, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, Vĩnh Long. - Bà P T T, sinh năm 1967 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp 7, xã Tân An Luông, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. - Bị đơn: Ông P V T, sinh năm 1972 (có mặt).
Địa chỉ: ấp Cầu Ván, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, Vĩnh Long. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà P T L, sinh năm 1955 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp 6, xã Hoà Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. - Bà Ph Th L, sinh năm 1961 (có mặt).
Địa chỉ: ấp Đồng Bé, xã Tân Long, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. - Bà Ph Th H, sinh năm 1982 (có mặt).
Địa chỉ: ấp 3, xã Hòa Thạnh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. - Bà Ph T h, sinh năm 1986 (xin vắng).
Địa chỉ: ấp Hòa Phong, xã Hòa Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. - Bà N T Ng, sinh năm 1957 (có mặt).
- Anh Ph v n, sinh năm 1988 (xin vắng).
- Ông Ph V M, sinh năm 1990 (xin vắng).
- Anh Ph V H, sinh năm 1992 (có mặt).
- Chị Ph T M, sinh 1994 (xin vắng).
- Anh Ph V M, sinh 1996 (xin vắng).
- Chị Ng T L, sinh năm 1976 (có mặt).
- Ph H Q, sinh năm 2000.
- Ph H T, sinh năm 2005.
- Người kháng cáo: Bà P T B, là nguyên đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của bà P T B, theo văn bản ủy quyền ngày 04/9/2024: Ông L T P, sinh năm 1976 (có mặt).
Địa chỉ: đường 3/2, khóm 4, thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
Cùng địa chỉ: ấp Cầu Ván, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 15/4/2022 của nguyên đơn là bà P T X, P T K, P T B, P T T và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông L T P trình bày:
Cha mẹ của nguyên đơn là cụ Ph V G (chết ngày 24/02/2009) và cụ H T Tr(chết ngày 24/6/2014). Cha mẹ có 08 người con gồm P T L, Ph V T ( chết), P T X, Ph Th L, P T K, P T B, P T T và P V T. Cụ Giang và cụ Trương không để lại di chúc.
Ông Ph V T (chết ngày 17/4/2013 ) có vợ là N T Ng và 08 người con: Ph Th H, Phước Thị Hoa, Ph Th, Ph v n, Ph V M, Ph V H, Ph T M, Ph V M.
Tài sản của cụ Giang và cụ Trương gồm có:
Thửa đất 169, tờ bản đồ số 3, diện tích 3.478,4 m² đất ở 300m² và trồng cây lâu năm 3.178,4m², gắn liền 01 căn nhà cấp 4, do cụ H T Tr đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số phát hành BA 694989, số vào sổ CH00067, do Ủy ban nhân dân huyện Mang Thít cấp ngày 09/02/2010.
Thửa đất số 618, tờ bản đồ số 3 diện tích 6.527,5m² loại đất chuyên trồng lúa nước, do cụ H T Tr đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số phát hành BB 404695, số vào sổ CH00170, do Ủy ban nhân dân huyện Mang Thít cấp ngày 21/7/2010.
Các thửa đất trên tọa lạc tại ấp Cầu Ván, xã Tân Long Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi cụ Trương chết, ông P V T cùng vợ là Ng T T L và hai con là Ph H Q, Ph H T quản lý, sử dụng nhà ở gắn liền thửa đất số 169 và một phần thửa đất số 618. Nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế hai thửa đất nêu trên nhưng bị đơn không đồng ý.
Nay các nguyên đơn: bà Xiếu, bà Kiệp, bà Bảy, bà Tám yêu cầu chia di sản thừa kế làm 09 kỷ phần. Bà Bảy xin nhận hai kỷ phần do có công sức chăm sóc cụ Trương ốm đau trước khi chết, còn lại mỗi suất thừa kế nhận một kỷ phần, đối với cây trồng và tài sản gắn liền trên đất ai được chia đất thì người đó hưởng, không yêu cầu chia. Đối với di sản còn lại của cụ Giang, cụ Trương thì chia thừa kế theo pháp luật. Căn nhà chính ông Út đang quản lý là di sản của cụ Giang, cụ Trương nên yêu cầu chia làm 09 kỷ phần, đồng ý giao căn nhà cho ông Út sở hữu, buộc ông Út phải trả bằng giá trị.
Theo đơn phản tố ngày 13/8/2023 của bị đơn ông P V T và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Út trình bày:
Mối quan hệ gia đình và di sản của cụ Trương, cụ Giang để lại là đúng như nguyên đơn trình bày. Ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vào năm 2013 cụ Trương và các anh em ruột có tặng cho vợ chồng ông Út 02 công đất ruộng thuộc chiết thửa 618 diện tích 6.725,5m². Khi đó các anh chị em đều đồng ý nhưng không làm giấy. Bà Bảy cầm tầm đo đất giao cho ông Út. Vợ chồng ông Út đã lên liếp trồng cây, cất nhà ở, vô điện, nước, không ai ngăn cản.
Sau khi cụ Trương chết, năm 2014 bà Bảy có chồng, căn nhà cha mẹ thuộc thửa đất số 169 không ai quản lý nên bà Bảy kêu ông Út về ở quản lý nhà cửa, đất đai. Vợ chồng ông Út đã tháo dỡ nhà ở trên 02 công đất thuộc thửa đất số 618. Ông Út đã ở thửa 169 và sửa chữa nhà, xây thêm nhà dưới, sân, hàng rào, đường dal vào nhà, số tiền đầu tư trên 200.000.000 đồng. Ông Út là người thờ cúng cha mẹ và quản lý thửa đất 169, còn thửa 618 ông Út sử dụng diện tích 2.000m², phần còn lại bà Bảy sử dụng. Bà Bảy là người giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa 169 và 618. Nay ông Út yêu cầu công nhận việc tặng cho quyền sử dụng đất do cụ Trương cho vào năm 2013 đối với diện tích 2.000m² thuộc thửa 618. Phần còn lại chia làm 09 phần đều nhau, ông Út xin nhận 02 kỷ phần, còn lại mỗi suất thừa kế nhận một kỷ phần.
Người nào được chia thừa kế ngay 02 công đất thuộc chiết thửa 618 đã được ông Út lập vườn thì phải bồi thường chi phí thuê máy cuốc lập vườn 4.000.000 đồng/1.000m², chi phí bơm bùn 10.000.000 đồng/1.000m² và giá trị cấy trồng theo giá của Nhà nước quy định. Người nào được chia thừa kế thửa đất 169 thì phải bồi thường chi phí thuê máy cuốc cải tạo vườn là 4.000.000 đồng/1.000m² và giá trị cây trồng theo giá quy định của Nhà nước. Đối với căn nhà của cụ Giang và cụ Trương để lại và diện tích đất ngay mộ của cụ Trương và cụ Giang, ông Út yêu cầu được sở hữu để thờ cúng và chăm sóc mồ mả ông bà.
Tại đơn yêu cầu ngày 26/7/2022 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà P T L và trong quá trình giải quyết bà Lựu trình bày: Bà Lựu thừa nhận lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn về mối quan hệ hôn nhân gia đình và di sản của cụ Giang và cụ Trương là đúng. Bà Lựu yêu cầu chia di sản theo quy định của pháp luật. Bà Lựu xin nhận di sản thừa kế bằng hiện vật.
Tại đơn yêu cầu ngày 19/7/2022 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ph Th L và trong quá trình giải quyết vụ án bà Liên trình bày:
Bà Liên thừa nhận lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn về mối quan hệ hôn nhân gia đình và di sản của của cụ Giang và cụ Trương là đúng. Bà Liên yêu cầu chia di sản theo quy định của pháp luật. Trường hợp phần thừa kế của Ph V T, người thừa kế của Ph V T không nhận thì nhập vào di sản chung của cụ Giang và cụ Trương để chia cho những người thừa kế hàng thứ nhất còn lại của cụ Giang và cụ Trương. Bà Liên xin nhận di sản thừa kế bằng hiện vật. Khi chia thừa kế ưu tiên cho P V T.
Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long đã xử:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, 74, 157, 158, 165, 166 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Điều 645, 649, 650, 651, 652, 660 của Bộ luật dân sự năm 2015; điểm a khoản 7 Điều 27 và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2014/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, nộp, giảm, miễn, thu, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Quyền sử dụng thửa đất 169 (theo bản đồ địa chính chính quy là thửa 316), căn nhà cấp 4 của cụ Ph V G và cụ H T Tr có diện tích 135,82m² gắn liền thửa đất 169 và quyền sử dụng thửa đất 618 (theo bản đồ địa chính chính quy chuyển thành thửa 113, thửa 124, thửa 137, thửa 152) là di sản của cụ Ph V G và cụ H T Tr.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn P T X, P T K, P T B, P T T về việc yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ Ph V G và cụ H T Tr cho bà P T B 02 kỷ phần.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn P V T về việc yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ H T Tr với ông P V T đối với 2.435,4m² đất trồng lúa chiết thửa 618.
- Buộc bị đơn P V T chia thừa kế di sản của cụ Ph V G và cụ H T Tr như sau:
- Đối với thửa đất 169, loại đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm (theo bản đồ địa chính chính quy chuyển thành thửa 316):
- Chia P T B quyền sử dụng đất 375m², trong đó có 340m² đất trồng cây lâu năm và 35m² loại đất ở nông thôn. Thể hiện qua các mốc giới: 1,2,B,Q,7,8,1. Buộc bà P T B bồi thường cho ông P V T giá trị cây trồng hiện có trên đất, gồm: 10 cây dừa, 07 cây bưởi, 31 cây mít, 03 cây mãng cầu là 28.055.000 đồng (hai mươi tám triệu không trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
- Chia P T T quyền sử dụng đất 375m², trong đó có 340m² đất trồng cây lâu năm và 35m² loại đất ở nông thôn. Thể hiện qua các mốc giới: B,C,P,Q, B. Buộc bà P T T bồi thường cho ông P V T giá trị cây trồng hiện có trên diện tích đất, gồm: 12 cây dừa, 03 cây bưởi, 29 cây mít là 25.880.000 đồng (hai mươi lăm triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).
- Chia và tạm giao cho P V T quản lý kỷ phần thừa kế của ông Ph V T đối với quyền sử dụng đất 375m² (có khu mộ của ông Giang và bà Trương), trong đó có 340m² đất trồng cây lâu năm và 35m² loại đất ở nông thôn. Thể hiện qua các mốc giới: C,D,O,A,6, P,C.
- Chia P T X quyền sử dụng đất 375m², trong đó có 340m² đất trồng cây lâu năm và 35m² loại đất ở nông thôn. Thể hiện qua các mốc giới: D,E,N,O,D. Buộc bà P T X bồi thường cho ông P V T giá trị cây trồng hiện có trên diện tích đất, gồm 07 cây dừa, 02 cây bưởi, 26 cây mít, là 19.420.000 đồng (mười chín triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng).
- Chia P T K quyền sử dụng đất 375m², trong đó có 340m² đất trồng cây lâu năm và 35m² loại đất ở nông thôn. Thể hiện qua các mốc giới: E,F,M,N,E. Buộc bà P T K bồi thường cho ông P V T giá trị cây trồng hiện có trên diện tích đất, gồm 07 cây dừa, 01 cây bưởi, 20 cây mít, 01 cây sầu riêng là 16.980.000 đồng.
- Chia P T L quyền sử dụng đất 375m², trong đó có 340m² đất trồng cây lâu năm và 35m² loại đất ở nông thôn. Thể hiện qua các mốc giới: F,3,G,L,M,F. Buộc bà P T L bồi thường cho ông P V T giá trị cây trồng hiện có trên diện tích đất, gồm: 02 cây dừa, 20 cây mít là 11.000.000đ.
- Chia Ph Th L quyền sử dụng đất 375m², trong đó có 340m² đất trồng cây lâu năm và 35m² loại đất ở nông thôn. Thể hiện qua các mốc giới: G,H,K,L,G. Buộc bà Ph Th L bồi thường cho ông P V T giá trị cây trồng hiện có trên diện tích đất, gồm: 05 cây dừa, 09 cây mít là 8.640.000 đồng (tám triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Chia cho P V T quyền sử dụng đất 754,1m², trong đó có 699,1m² đất trồng cây lâu năm và 55m² loại đất ở nông thôn. Thể hiện qua các mốc giới: H,I,4,5,J,K,H.
- Đối với căn nhà chính của cụ Ph V G và cụ H T Tr hiện có trên thửa đất 169:
- Giao ông P V T sở hữu toàn bộ căn nhà cấp 4, có diện tích 135,82m² của cụ Ph V G và cụ H T Tr hiện có trên thửa đất 169.
- Buộc ông P V T chia thừa kế giá trị căn nhà cho:
- P T X là 28.770.000 đồng (hai mươi tám triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng).
- P T K là 28.770.000 đồng (hai mươi tám triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng).
- P T B là 28.770.000 đồng (hai mươi tám triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng).
- P T T là 28.770.000 đồng (hai mươi tám triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng).
- P T L là 28.770.000 đồng (hai mươi tám triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng).
- Ph Th L là 28.770.000 đồng (hai mươi tám triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng).
- Chia và tạm giao ông P V T quản lý kỷ phần thừa kế của ông Ph V T là 28.770.000 đồng (hai mươi tám triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng).
- Chia thừa kế cho ông P V T 57.540.000 đồng (năm mươi bảy triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Đối với thửa đất 618 loại đất trồng lúa (theo bản đồ địa chính chính quy chuyển thành các thửa ( 113, 124, 157, 152):
- Chia cho P T B quyền sử dụng đất 725m². Thể hiện qua các mốc giới: V,5,11,9,F,V.
- Chia cho P T T quyền sử dụng đất 725m². Thể hiện qua các mốc giới: X,C,V,F,G,X.
- Chia cho P T X quyền sử dụng đất 725m². Thể hiện qua các mốc giới: S,X,G,H,S.
- Chia cho P T K quyền sử dụng đất 725m². Thể hiện qua các mốc giới: P,S,H,Z,P.
- Chia cho P T L quyền sử dụng đất 725m². Thể hiện qua các mốc giới: Y,B,P,Z,D,M,Y.
- Chia và giao ông P V T quản lý sử dụng hợp pháp kỷ phần thừa kế của ông Ph V T với diện tích 725m². Thể hiện qua các mốc giới: T,4,Y,M,10,N,T. Tạm giao ông P V T quản lý giá trị kỷ phần của ông Ph V T là 43.500.000 đồng (bốn mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).
- Chia và giao ông P V T quản lý sử dụng hợp pháp kỷ phần thừa kế của bà Ph Th L với diện tích 725m². Thể hiện qua các mốc giới: R,T,N,Q,O,R.
- Chia P V T quyền sử dụng đất 1.453,9m². Thể hiện qua các mốc giới: 1,2,A,L,3,R,O,K,E,1.
Căn cứ theo Trích đo bản đồ địa chính khu đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Mang Thít lập ngày 24/4/2024, chia từ hướng tây nam theo thứ tự sau:
Các đương sự được mở lối đi chung có chiều ngang 02 mét, cặp ranh thửa 299 của Lý Ngọc Lan và thửa 423 của Lê Hữu Tài, chiều dài từ đường bê tông đến hết thửa đất 169.
Căn cứ theo Trích đo bản đồ địa chính khu đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Mang Thít lập ngày 24/4/2024, chia từ hướng đông nam theo thứ tự sau:
Buộc ông P V T chia trả Ph Th L giá trị đất là 43.500.000 đồng (bốn mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Các đương sự được mở lối đi chung có chiều ngang 02 mét, cặp ranh thửa 112 của Phước Văn Dũng, thửa 133 của Dương Thị Kế, có chiều dài từ đường bêtông đến hết thửa đất 618.
- Nội dung khác:
- Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai.
- Các đương sự không được đốn bỏ, di dời cây trồng, nhà ở, vật kiến trúc hiện có trên đất đến khi thi hành án xong bản án.
- Các đương sự được sở hữu toàn bộ cây trồng, nhà ở, vật kiến trúc hiện có trên diện tích được chia thừa kế.
- Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc bà P T B nộp 6.625.750 đồng. Được khấu trừ từ 8.606.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít ngày 29/4/2022, lai số 0007087. Còn lại hoàn trả bà Bảy 1.980.250 đồng (một triệu chín trăm tám mươi nghìn hai trăm năm mươi đồng).
- Buộc bà P T T nộp 6.517.000 đồng. Được khấu trừ là 4.303.000 đồng tạm ứng án phi nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít ngày 29/4/2022, lai số 0007088. Bà Tám phải nộp tiếp là 2.214.000 đồng (hai triệu hai trăm mười bốn nghìn đồng).
- Buộc ông P V T nộp 10.353.000 đồng. Được khấu trừ từ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít ngày 14/8/2023, lai số 0001140. Ông Út phải nộp tiếp 10.053.000 đồng (mười triệu không trăm năm mươi ba nghìn đồng).
- Hoàn trả bà P T K số tiền 4.303.000 đồng (bốn triệu ba trăm lẽ ba nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít ngày 29/4/2022, lai số 0007089.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà P T B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả cho bà P T B 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu tiền số Nº 0005783 ngày 09/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mang Thít nên được trừ qua.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về nghĩa vụ thi hành án:
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải chịu thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Dũng |
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Thành Đăng |
Đặng Thị Ánh Bình |
Nguyễn Văn Dũng |
Bản án số 207/2024/DS-PT ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở
- Số bản án: 207/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bà Phước Thị Bảy sửa án sơ thẩm
