|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 207/2024/DS-ST Ngày: 17 – 7 – 2024 V/v “Tranh chấp đòi tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Việt Thắng
- Ông Văn Công Trọn
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 228/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Ngô Hoàng N, sinh năm: 1953 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm: 1954 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 13/12/2023, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Ngô Hoàng N trình bày: Vào ngày 26 tháng 4 năm 1998 âl ông có cho ông G vay 12,5 lượng vàng 24K, thời hạn vay 10 tháng với lãi suất 7,5 chỉ vàng 24K. Khi vay ông G có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông G để đảm bảo, khi vay có làm giấy khế ước vay vàng. Ngày 26/4/1998 ông G có vay thêm số tiền 1.200.000 đồng, vay không thời hạn, lãi suất thỏa thuận, khi vay có viết giấy khế ước vay tiền. Từ thời điểm vay đến nay ông G không đóng lãi cũng như không có ý định chuộc lại giấy chứng nhận đã thế chấp. Nay ông yêu cầu ông G trả cho ông 12,5 lượng vàng 24K và số tiền 1.200.000 đồng, ông tự nguyện trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi ông G thanh toán xong khoản nợ, ngoài ra ông không yêu cầu gì khác.
* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Nguyễn Văn G vẫn vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án về nội dung tranh chấp của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng: Về loại việc các bên tranh chấp là đòi tài sản nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về sự có mặt của đương sự: Ông Nguyễn Văn G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.
[3] Xét yêu cầu đòi tài sản của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngày 26/4/1998 âl ông Nguyễn Văn G có vay của ông Ngô Hoàng N 125 chỉ vàng 24 kara và số tiền 1.200.000 đồng, khi vay có làm giấy khế ước vay vàng, tiền. Khi vay ông G có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông G để đảm bảo hai khoản vay. Quá trình thực hiện việc vay vàng, tiền đến nay ông G không thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu đòi lại 125 chỉ vàng 24 kara và số tiền 1.200.000 đồng ông G đã vay. Chứng minh cho yêu cầu của mình ông N cung cấp cho Toà án Giấy khế ước vay vàng, giấy khế ước vay tiền (cùng 01 giấy) đề ngày 26/4/1998 âl có chữ ký và chữ viết của ông G và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông G (bản sao). Như vậy, giao dịch vay vàng, tiền giữa ông N với ông G là thực tế có xảy ra.
[4] Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành triệu tập hợp lệ ông G để tiến hành hòa giải, xét xử nhưng không có mặt cũng như không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án để thể hiện sự phản đối trước yêu cầu của nguyên đơn, điều đó thể hiện về mặt ý thức không phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, căn cứ vào Giấy khế ước vay vàng, giấy khế ước vay tiền (cùng 01 giấy) đề ngày 26/4/1998 âl có chữ ký và chữ viết của ông G và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông G (bản sao) làm căn cứ chứng minh được quy định tại khoản 4 Điều 91, khoản 4 Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khẳng định về chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là có cơ sở nên được chấp nhận.
[5] Đối với tài sản thế chấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 429614 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 27/3/1997, đứng tên ông Nguyễn Văn G, số vào sổ 1720/QSDĐ, thửa số 0186, tờ bản đồ số 10, diện tích 6.500m²; đất tọa lạc tại xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau, ông N tự nguyện trả lại cho ông G sau khi ông G thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán nợ là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N, buộc ông G trả cho ông N 125 chỉ vàng 24 kara và số tiền 1.200.000 đồng.
[7] Do phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho ông N nên ông G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (được miễn nộp do người cao tuổi). Ông N không phải chịu án phí đã được miễn dự nộp nên không hoàn lại là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Hoàng N – buộc ông Nguyễn Văn G có nghĩa vụ thanh toán cho ông N 125 chỉ vàng 24 kara (một trăm hai mươi lăm chỉ vàng 24 kara), giá vàng 24 kara tại thời điểm xét xử là 7.460.000đ/chỉ và số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
- Buộc ông Ngô Hoàng N trả lại cho ông Nguyễn Văn G giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 429614 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 27/3/1997, đứng tên ông Nguyễn Văn G, số vào sổ 1720/QSDĐ, thửa số 0186, tờ bản đồ số 10, diện tích 6.500m²; đất tọa lạc tại xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau khi các nghĩa vụ được bảo đảm bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này đã được thanh toán xong.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (được miễn nộp do người cao tuổi). Ông N không phải chịu án phí, đã được miễn dự nộp do người cao tuổi nên không hoàn lại.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quy ền kháng cáo: Ông Ngô Hoàng N, ông Nguyễn Văn G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Huỳnh Văn Đ |
Bản án số 207/2024/DS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 207/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
