Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 207/2024/HS-ST

Ngày: 26/4/2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Cát Tưởng

2. Bà Mai Thị Tiếp

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 26/ 4/ 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 187/2024/HSST ngày 05/ 02/ 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/ QĐXXST- HS ngày 22/02/ 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, Sinh năm: 1990; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn B Y, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Hữu B ( đã chết); Con bà: Trần Thị O, Sinh năm: 1958; Tiền án: Ngày 30/12/2016, TAND quận Cầu Giấy xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và bồi thường dân sự (thực hiện hành vi phạm tội ngày 11/8/2016); Ngày 10/4/2017, TAND quận Thanh Xuân xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, (Thực hiện hành vi phạm tội ngày 24/8/2016), tổng hợp hình phạt với bản án ngày 30/12/2016, phải chấp hành 07 năm tù giam (ra trại ngày 19/12/2022); Nhân thân: Ngày 22/01/2010 Chủ tịch UBND thành phố H áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng, ngày 24/5/2012 chấp hành xong; Ngày 20/12/2012 TAND quận Thanh Xuân xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”(ra trại ngày 24/7/2013, chấp hành xong AP HSST ngày 17/5/2013); Ngày 20/12/2014, TAND quận Thanh Xuân xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bản án không tính tái phạm do phạm tội chưa đạt (ra trại ngày 15/5/2014, chấp hành xong AP HSST ngày 21/02/2014); Tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang tạm giam trong vụ án khác tại Trại Tạm giam Công an tỉnh V theo Quyết định tạm giam số 48/2024/HSST/QĐTG ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Bị hại:

  1. Anh Khương Văn L, sinh năm 1995
  2. Anh Tống Tuấn A, sinh năm 1992
  3. Lê Thị Thu T, sinh năm 1994

Địa chỉ: Phố B, Phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Địa chỉ: Lô D, MB934, Phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Địa chỉ: Lô D, MB934, Phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt các bị hại ;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mục đích chiếm đoạt nên ngày 18/7/2023 Nguyễn Văn C một mình đi bộ quanh địa bàn phường Đ, phường Đ, thành phố T tìm nhà dân không có người trông coi để trộm cắp tài sản. Trong ngày 19, 20/7/2023 C đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 19/7/2023 C đến nhà số159 N, phường Đ, thành phố T, trèo tường lên lan can tầng 03, dùng tay kéo tấm lưới sắt bảo vệ ra rồi trèo vào trong. Tiếp đó, C đi xuống tầng 01, sau khi lục soát lấy đi 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu DELL Latitude E5550 17 5600 Vga rời màu đen của anh Khương Văn L đang để ở bàn làm việc và bẻ rời chân để 01 mắt camera nhãn hiệu Ezviz C6N 1080p của anh L để cạnh laptop, rồi trèo ra ngoài. C đem chiếc laptop cùng một phần camera đi bộ dọc theo đường N được một đoạn thì vứt chiếc camera về phía đường tàu, sau đó đến gầm cầu H ngồi chờ trời sáng. Đến rạng sáng, C mượn điện thoại của người không quen biết gọi cho anh Dương Văn M đến đón và chở C đi bán laptop, C nói với M là laptop của người quen. M đi taxi cùng C đến 01 cửa hàng (Chính không nhớ địa chỉ) tại khu vực đường N, TP . bán chiếc laptop lấy 1.700.000 đồng. Số tiền có được C đã ăn tiêu hết.

Bản kết luận định giá tài sản số 91/KL-HĐ ĐGTS ngày 28/7/2023 của Hội đồng định giá U kết luận: 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu DELL Latiude E5550 17 5600 Vga rời màu đen trị giá 7.500.000đ.

Bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐ ĐGTS ngày 08/01/2024 của Hội đồng định giá U kết luận: 01 chiếc mắt camera nhãn hiệu Ezviz C6N 1080p, Wifi trị giá 500.000đ.

Bị hại anh Khương Văn L, sinh năm 1995, trú tại phố B, phường L, thành phố T khai báo giá trị tài sản bị chiếm đoạt do anh mua từ năm 2021, hiện có giá khoảng 8.000.000 đồng.

Vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được, tuy nhiên người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường hoặc trả lại tài sản bị chiếm đoạt.

- Thu giữ 01 chiếc USB nhãn hiệu Kingston loại 02GB ghi lại hình ảnh trích xuất từ camera an ninh, lưu tại hồ sơ vụ án.

Vụ thứ hai: Khoảng 14h00 ngày 20/7/2023, C đi bộ từ đại lộ N đến khu vực Mặt bằng I, phường Đ, thành phố T, quan sát thấy gia đình anh Tống Tuấn A, không có người ở nhà và bên cạnh là nhà đang xây dựng nên Chính trèo qua nhà đang xây dựng, đi sang tầng 2 nhà anh Tuấn A. Chính mở cửa sổ, chui vào phòng ngủ lấy đi 01 chiếc lắc vàng loại 24K, trọng lượng 02 chỉ; 02 chiếc nhẫn cưới loại 10K trọng lượng 01 chỉ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53 màu xanh đen lắp sim số 0823502381. Lấy được tài sản, C trèo xuống tầng 1 rồi đi bộ ra đường Đ Sau đó, C bắt xe ôm đi bán toàn bộ số vàng trên cho 01 cửa hàng buôn bán vàng bạc không rõ địa chỉ tại thành phố T lấy 12.100.000đ (mười hai triệu một trăm nghìn đồng) rồi bắt xe khách ra Hà Nội. Còn chiếc điện thoại, C bán cho một cửa hàng mua bán điện thoại di động không xác định được địa chỉ tại khu vực huyện H, thành phố Hà Nội với giá 1.000.000đ (một triệu đồng). Toàn bộ số tiền thu được C đã ăn tiêu hết.

Bản kết luận định giá tài sản số 100/KL-HĐ ĐGTS ngày 30/8/2023 và Bản kết luận định giá tài sản số 130/KL-HĐ ĐGTS ngày 28/11/2023 của Hội đồng định giá U kết luận: 01 chiếc lắc vàng loại 24K, trọng lượng 02 chỉ; 02 chiếc nhẫn cưới loại 10K trọng lượng 01 chỉ có giá trị 14.040.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53 màu xanh đen có giá trị 1.000.000 đồng, tổng trị giá tài sản là 15.040.000đ.

Bị hại anh Tống Tuấn A và chị Lê Thị Thu T khai tổng tài sản bị mất gồm: 01 lắc vàng 24 k; 01 điện thoại di động OPPO; 02 nhẫn cưới và 01 triệu đồng tiền mặt. Tổng giá trị khoảng trên 15 triệu đồng.

Vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Anh Tống Tuấn A và chị Lê Thị Thu T yêu cầu bị cáo bồi thường toàn bộ giá trị số tài sản đã chiếm đoạt.

- Thu giữ 01 chiếc USB màu trắng – bạc, kích thước (1,2x3,9)cm nhãn hiệu KINGSTON in dòng chữ DTSE9 4GB chứa hình ảnh trích xuất từ camera an ninh, lưu hồ sơ vụ án.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập được.

Đối với anh Dương Văn M, sinh năm 2001, trú tại Phố G, Phường T, TP T cùng đi với C bán laptop nhưng không biết là tài sản phạm tội mà có nên không xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi hủy hoại camera của C, Cơ quan CSĐT công an thành phố T xử phạt hành chính đối với C về hành vi Hủy hoại tài sản là phù hợp.

Tại bản cáo trạng số 112/CT -VKS ngày 02/ 02/ 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm g, h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Mức hình phạt đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng: Từ 18 đến 24 tháng tù.

Về phần dân sự:

Anh Tống Tuấn A và chị Lê Thị Thu T yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Xét yêu cầu của anh Tống Tuấn A và chị Lê Thị Thu T là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự. Do đó cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Tống Tuấn A và chị Lê Thị Thu T giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo kết quả định giá là 15.040.000đ.

Đối với số tài sản anh Khương Văn L bị chiếm đoạt, anh Khương Văn L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên công nhận sự tự nguyện của bị hại không buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Khương Văn L. Nhưng số tiền bị cáo bán tài sản chiếm đoạt của anh Khương Văn L được 1.700.000đ, bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết. Xét đây là số tiền thu lời bất chính, do bị cáo phạm tội mà có, nên cần áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí DSST, theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Đ a, c Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiếm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do có mục đích trộm cắp tài sản từ trước, nên bị cáo đã đi dọc các tuyến đường trên địa bàn phường Đ, phường Đ, Thành phố T để quan sát và lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu để chiếm đoạt tài sản. Từ ngày 19 đến ngày 20/7/2023, bị cáo đã 02 lần lén lút thực hiện hành vi “ Trộm cắp tài sản”. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 23.540.000 đồng.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự .

Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo có nhân thân xấu, bản thân đã nhiều lần bị xét xử, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để phấn đấu trở thành người lương thiện mà sau khi chấp hành xong hình phạt tù một thời gian ngắn, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu để chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trong xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, nên cần xử lý nghiêm.

[4] Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này bị cáo phạm tội 02 lần. Mặt khác bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích của bản án hình sự số 44/ 2017/ HSST ngày 10/ 4/ 2017 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội là thuộc trường hợp “ Tái Phạm”. Do đó bị cáo phải chịu các tình tiết tăng nặng được quy định tại Điểm g, h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[ 5] Về hình phạt:

Căn cứ vào nhân thân và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

[ 6] Về trách nhiệm dân sự:

Anh Tống Tuấn A và chị Lê Thị Thu T yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Xét yêu cầu của anh Tống Tuấn A và chị Lê Thị Thu T là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự. Do đó cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Tống Tuấn A và chị Lê Thị Thu T giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 16.040.000đ.

Đối với số tài sản anh Khương Văn L bị chiếm đoạt, anh Khương Văn L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên công nhận sự tự nguyện của bị hại không buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Khương Văn L. Nhưng số tiền bị cáo bán tài sản chiếm đoạt của anh Khương Văn L được 1.700.000đ, bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết. Xét đây là số tiền thu lời bất chính, do bị cáo phạm tội mà có, nên cần áp dụng Đ b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 802.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Đ a, c Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm g, h Điều 52; Điều 38 ; Điểm b Khoản 1 Điều 47; Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 136 ; Khoản 1 Điều 331; Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Đ a, c Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn C 24 ( Hai mươi bốn ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo phải trả cho anh Tống Tuấn A và chị Lê Thị Thu T giá trị tài sản chiếm đoạt là 16.040.000đ ( Mười sáu triệu không trăm bốn mươi ngàn đồng).

Bị hại anh Khương Văn L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên không xem xét.

Truy thu số tiền bị cáo bán tài sản trộm cắp của anh Khương Văn L là 1.700.000đ ( Đây là số tiền thu lời bất chính) để nộp ngân sách nhà nước.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu thêm lãi suất đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 802.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu TAND TP. Thanh Hóa.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 207/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 207/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger