Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 207/2024/HS-ST

Ngày: 20-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Nghiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đăng Vạn
  2. Ông Phạm Văn Phước

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Đạt – Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 197/2024/HSST ngày 16 tháng 4 năm 2024 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức Hồng T, sinh ngày 02/02/1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh;

Giới tính: Nữ; Đăng ký Hộ khẩu thường trú: I H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: I H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Nhân viên kinh doanh; Con ông: Nguyễn Đức M, sinh 1967 và bà Phan Kim H, sinh 1965; Gia đình bị cáo là con duy nhất; Tiền án, tiền sự: không. Đã áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ 07/11/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thùy N, sinh năm 1991.

Địa chỉ: 4 Đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Phan Kim H, sinh năm 1965
  • Địa chỉ: I H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
  • - Bà Nguyễn Thị Xuân L, sinh năm 1996
  • Địa chỉ: 2 Đường A, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 30/5/2023, Nguyễn Đức Hồng T và chị Nguyễn Thị Thùy N hẹn nhau uống cà phê tại quán P địa chỉ C đường C, phường T, thành phố T. Trong lúc uống cà phê, T mượn điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus của chị N để sử dụng thì phát hiện thấy tài khoản ngân hàng của chị N có 83.000.000 đồng và trong ốp điện thoại di động hiệu S có Căn cước công dân của chị N. T hỏi chị N: “chưa làm căn cước công dân mới hở, chị N trả lời: “Chưa”, lúc này, T nảy sinh ý định chiếm đoạt một phần số tiền trên để trả nợ và tiêu xài. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T về nhà chị N tại địa chỉ 45/5/11 Đ, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố H để ăn cơm. Khi về đến nhà, chị N để 02 điện thoại trên giường, T tiếp tục hỏi mượn điện thoại hiệu Iphone 8 Plus để sử dụng cho mục đích công việc thì được chị N nhập mật khẩu cho sử dụng. Sau đó, chị N đi nấu cơm, T không sử dụng điện thoại của chị N để làm việc mà dùng điện thoại của chị N cho mượn đăng nhập vào tài khoản B vào mục “Quên mật khẩu” để được cấp mật khẩu mới thông qua thông tin trên chứng minh nhân dân mà chị N để trong ốp điện thoại di động S. Sau khi được cấp mật khẩu mới, T đổi sim điện thoại của chị N sang điện thoại di động hiệu Iphone 13Promax của mình rồi đổi mật khẩu tài khoản ngân hàng B của chị N thành “Thuynhung@12”. Sau khi đổi mật khẩu xong thì trong cùng ngày 30/5/2023, T thực hiện thao tác chuyển số tiền 60.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng B của chị N số tài khoản 31410002717455 sang tài khoản ngân hàng V số tài khoản 038566590 mang tên NGUYEN THI XUAN LỌC (tài khoản T tự ý sử dụng thông tin và hình ảnh của chị Nguyễn Thị Xuân L để tạo lập). Sau đó từ tài khoản Nguyễn Thị Xuân L, T tiếp tục thực hiện việc chuyển tiền như sau:

  • - Chuyển 03 lần với tổng số tiền 35.200.000 đồng đến tài khoản số [...] tên Phan Kim H1 mở tại Ngân hàng V vào ngày 30/5/2023, chủ tài khoản Phan Kim H là mẹ ruột của T (Tài khoản số [...] mang tên PHAN KIM HONG mở tại Ngân hàng V cũng là do T lấy thông tin cá nhân của bà H tự ý mở và trực tiếp sử dụng). Số tiền 35.200.000 đồng trên, T chuyển tiếp đến số tài khoản 19036604927019 của T mang tên Nguyễn Đức Hồng T mở tại Ngân hàng T2.
  • - Chuyển 20.000.000 đồng đến tài khoản Zalopay đăng ký bằng số điện thoại 0896.910.xxx. Số tiền 20.000.000 đồng trên T chuyển tiếp đến tài khoản số19036604927019 của T tại Ngân hàng T2.
  • - Chuyển 4.800.000 đồng đến tài khoản Momo, số điện thoại 0896.910.xxx rồi chuyển tiếp toàn bộ 4.800.000 đồng trên đến tài khoản Momo của T (đăng ký bằng số điện thoại 0975.545.xxx chính chủ do T đứng tên). Trong số 4.800.000 đồng trong tài khoản Momo của T, T chuyển 2.000.000 đồng đến số tài khoản 19036604927019 của T mang tên Nguyễn Đức Hồng T mở tại Ngân hàng T2.

Tổng cộng T đã chuyển vào tài khoản T2 của mình 57.200.000 đồng, tài khoản khoản Momo số điện thoại 0975.545.xxx của T giữ lại 2.800.000 đồng. T dùng số diện thoại 0896910217 để đăng ký Z và M1 mang tên Nguyễn Thị Xuân L. Hiện T đã vứt bỏ, không sử dụng số điện thoại 0896.910.xxx.

Sau khi chuyển 57.200.000 đồng vào ngân hàng T2 số tài khoản19036604927019, thì T sử dụng số tiền trên như sau:

  • - Trả nợ trên app vay tiền Cozmo bằng hình thức chuyển khoản đến số tài khoản 00894251320 mang tên BAOKIM – CONG TY TNHH DAU TU THUONG mở tại Ngân hàng V1 số tiền 14.469.000 đồng.
  • - Chuyển 5.000.000 đồng đến tài khoản số 19036690003010 mang tên DUONG DUC KIEN mở tại Ngân hàng T2 để trả nợ cho người bạn tên K.
  • - Trả nợ trên app vay tiền M2 bằng hình thức chuyển khoản đến tài khoản số 00822378083 mang tên BAOKIM – PROLAW FIRM mở tại ngân hàng V1 số tiền 5.702.000 đồng.
  • - Chuyển trả nợ trên app vay tiền Mcredit bằng hình thức chuyển khoản đếntài khoản số 19022481575030 mang tên ZION JOINT STOCK COMPANY mở tại Ngân hàng T2 số tiền 1.767.000 đồng.
  • - Chuyển trả nợ trên app vay tiền OnCredit bằng hình thức chuyển khoản đến tài khoản số 19036795840015 mang tên LOITIN TMDV LIMITEDCOMPANY số tiền 9.337.600 đồng.
  • - Chuyển đến tài khoàn số [...] mang tên TRAN THANH TRANG mở tại Ngân hàng Q số tiền 20.000 000 đồng để trả nợ cho một người bạn của T tên T1.

Còn lại 924.400 đồng T sử dụng để tiêu xài cá nhân.

Số tiền còn còn lại trong tài khoản Momo của T là 2.800. 000 đồng được T sử dụng như sau:

  • - Sử dụng 2.655.500 đồng để thanh toán cho khoản vay mở tại app M3
  • - 134.500 đồng T tiêu xài cá nhân.

Sau khi phát hiện tài khoản của mình bị thay đổi mật khẩu, chị Nguyễn Thị Thùy N đến ngân hàng kiểm tra thì phát hiện tài khoản đã bị chuyển tiền. Chị N nghi ngờ T đã thay đổi mật khẩu tài khoản ngân hàng của mình và thực hiện việc chuyền tiền nên đã đến Công an phường T trình báo và liên hệ với T. Biết được sự việc. T đã ra đầu thú khai rõ sự việc tại Công an phường T, Công an phường đã lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú (Bút lục: 10)

Tại Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Nguyễn Đức Hồng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tôi như trên. (Bút lục: 50 - 57; 183 – 185)

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) điện thoại di đông hiệu Iphone, tên kiểu máy Iphone 13 Pro Max, máy MLKV3LL/A, số sêri: DFXHNW46PK, số IMEI 1: 358074299279417.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Nguyễn Thị Thùy N sau khi nhận lại 60.000.000 đồng đã viết đơn bãi nại, xin giảm hình phạt cho T, không có yêu cầu nào về dân sự (Bút lục: 192)

Cáo trạng số 201/CT-VKSTP Thủ Đức ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Đức Hồng T về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm đ Khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H2 Thảo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
  • - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Kim H trình bày: Việc T lấy thông tin cá nhân của tôi để mở tài khoản và sử dụng vào hành vi vi phạm pháp luật tôi không hề hay biết, tại phiên tòa hôm nay tôi không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Đức Hồng T tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung lời khai của bị hại, với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 30/5/2023, tại nhà số D Đường A, khu phố D, phường T, thành phố T, bị cáo Nguyễn Đức Hồng T đã có hành vi dùng điện thoại di động truy cập bất hợp pháp vào tài khoản ngân hàng của chị Nguyễn Thị Thùy N để chiếm đoạt 60.000.000 đồng của chị N. Là Nguyễn Đức Hồng T đã phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong trường hợp chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Nguyễn Đức Hồng T là người còn trẻ, có sức khỏe, có điều kiện lao động, làm việc để có thu nhập ổn định nhưng do tham lam muốn có tiền để tiêu xài nên đã đi vào con đường chiếm đoạt tài sản của người khác, vi phạm pháp luật. Trong vụ án này T đã chiếm đoạt 60.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thùy N.

Hành vi chiếm đoạt tài sản do Nguyễn Đức Hồng T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, góp phần gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Tuy nhiên cũng xét, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo đầy đủ thành khẩn có thái độ ăn năn hối lỗi, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đầu thú và gia định bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại và bị hại cũng đã có đơn bãi nại cho bị cáo. Do đó cần áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt áp dụng; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo thì mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là có phần phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp thuận một phần.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại đầy đủ số tiền 60.000.000 đồng và không có yêu cầu gì khác do đó Tòa án không phải giải quyết về bồi thường dân sự cho người bị hại.

[5] Xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, tên kiểu máy Iphone 13 Pro Max, máy MLKV3LL/A, số sêri: DFXHNW46PK, số IMEI 1: 358074299279417 sau khi thực hiện hành vi phạm tội, T đã dùng điện thoại này để chuyển số tiền chiếm đoạt. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

Đối với chị Phan Kim H và chị Nguyễn Thị Xuân L do T lấy thông tin cá nhân của chị H, chị L tự ý mở và trực tiếp sử dụng tài khoản mang tên PHAN KIM H3 tại ngân hàng V và tài khoản mang tên NGUYEN THI XUAN LOC tại ngân hàng B, chị H và chị L không biết T thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh Sát điều tra không xem xét xử lý bà H, bà L là đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm đ Khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Hồng T phạm tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
    1. Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Nguyễn Đức Hồng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2023.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì khác.
    1. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, tên kiểu máy Iphone 13 Pro Max, máy MLKV3LL/A, số sêri: DFXHNW46PK, số IMEI 1: 358074299279417.

Tài sản tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, được ghi trong Lệnh nhập kho vật chứng số 284/LNK - CSKT ngày 30/11/2023 của Cơ quan CSĐT- Công an thành phố T.

  1. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đức Hồng T phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP.HCM;
  • - Viện KSND thành phố Thủ Đức;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Bị hại;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Viết Nghiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 207/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 207/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger