TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 207/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/7/2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Tuyết
- Bà Trần Nguyệt Mai
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dần - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phạm Tuân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 178/TLST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lý Kiết M, sinh năm 1989; địa chỉ: A T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Ngọc S, sinh năm 1983; địa chỉ: A Lầu B T, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện (về việc ly hôn) đề ngày 23/5/2023, tờ tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và biên bản về việc không tiến hành hòa giải được nguyên đơn – bà Lý Kiết M trình bày:
Bà Lý Kiết M và ông Trần Ngọc S chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn số 56, quyển số 73/2012, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 09/8/2012. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc luôn bất đồng quan điểm, mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng. Bà M và ông S đã nhiều lần hòa giải, hàn gắn nhưng không thành. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, bà M yêu cầu được ly hôn ông S.
- Về con chung: Bà M và ông S chung sống có 01 con chung là Trần Đức Q, sinh ngày 06/11/2012, bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà M xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Lý Kiết M có đơn xin vắng mặt.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã có thông báo thụ lý vụ án số: 178/TB-TLVA ngày 20/7/2023 và đã niêm yết thông báo thụ lý và Giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải kể cả Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa để ông Trần Ngọc S là bị đơn trong vụ án đến Toà án để làm việc, tham gia tố tụng, nhưng ông S không đến Toà án để trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên toà hôm nay, ông S vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên không có lời khai của ông S. Xét thấy Toà án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đối với bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, là thuộc trường hợp cố tình vắng mặt, gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Quận 5 đã thực hiện đúng, đủ các qui định của pháp luật trong quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa sơ thẩm. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các quy định của pháp luật có liên quan, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Án phí do nguyên đơn chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Bà Lý Kiết M khởi kiện “Tranh chấp ly hôn”, khi khởi kiện bị đơn ông Trần Ngọc S có địa chỉ cư trú tại A Lầu B T, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2]. Về yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lý Kiết M và ông Trần Ngọc S chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn số 56, quyển số 73/2012, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 09/8/2012 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, việc bà M yêu cầu ly hôn là có căn cứ cần chấp nhận giải quyết.
Tại đơn xin ly hôn, tờ tự khai và các văn bản tiếp theo tại Tòa bà M yêu cầu được ly hôn ông S do vợ chồng chung sống không hạnh phúc luôn bất đồng quan điểm, mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng. Bà M và ông S đã nhiều lần hòa giải, hàn gắn nhưng không thành. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, bà M yêu cầu được ly hôn ông S. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông S đến Tòa để hòa giải nhưng ông S không hợp tác và không có mặt để hòa giải. Điều đó chứng tỏ ông S không có thiện chí tham gia hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ với nhau.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, bà M và ông S đã không còn chung sống với nhau, các đương sự không có khả năng và thiện chí hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, bà M yêu cầu được ly hôn ông S là có cơ sở cần chấp nhận.
- Về con chung: Căn cứ bản sao giấy khai sinh số 168, quyển số 01/2012 ngày 19/11/2012 của Trần Đức Q có cơ sở xác định bà Lý Kiết M và ông Trần Ngọc S có 01 người con chung là Trần Đức Q, sinh ngày 06/11/2012, bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: nguyện vọng được nuôi con chung của bà M là chính đáng. Từ khi ly thân Trần Đức Q do bà M chăm sóc, trẻ Trần Đức Q cũng có nguyện vọng được sống với bà M nên việc bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Trần Đức Q là có cơ sở cần chấp nhận. Do bà M không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: bà Lý Kiết M xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và có cơ sở chấp nhận.
[3]- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lý Khiết M1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với tranh chấp ly hôn là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các điều 51, 55, 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Lý Kiết M
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Kiết M được ly hôn ông Trần Ngọc S. Giấy chứng nhận kết hôn số 56, quyển số 73/2012, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 09/8/2012 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Bà Lý Kiết M và ông Trần Ngọc S có 01 người con chung là Trần Đức Q, sinh ngày 06/11/2012. Giao con chung là Trần Đức Q cho bà Lý Kiết M trực tiếp nuôi dưỡng. Bà M không yêu cầu Trần Ngọc S cấp dưỡng nuôi con.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng hoặc phương thức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lý Kiết M xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lý Kiết M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với tranh chấp ly hôn là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2021/0010748 ngày 20/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Án xử sơ thẩm thẩm công khai, các đương sự vắng mặt có thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. HCM - VKSND TP. HCM - VKSND Q.5 - Chi cục THADS Q.5 - Các đương sự - Lưu VP, HS; | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Thảo |
Bản án số 207/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 207/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lý Kiết M được ly hôn với ông Trần Ngọc S, bà M trực tiếp nuôi dưỡng con không yêu cầu cấp dưỡng
