Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 207/2024/DS-ST

Ngày: 12-08-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Ngân
  2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 112/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 05 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 357/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 07 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 206A/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 07 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L (D), sinh năm 1979; địa chỉ: số A H, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang, có mặt;
  2. Bị đơn:
    1. Ông Dương Xuân V, sinh năm 1980; địa chỉ: tổ A ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);
    2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ A ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Do quen biết nên bà L có cho vợ chồng ông V, bà Đ vay số tiền là 330.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, không thời hạn, khi nào cần lấy lại tiền bà L báo cho ông V, bà Đ trước 01 tháng, mục đích vay làm kinh tế cho gia đình, khi vay ông V, bà Đ có làm biên nhận nợ ngày 11/01/2024 âl, quá trình vay ông V, bà Đ không trả vốn và lãi mặc dù bà L có yêu cầu. Vì vậy, bà Nguyễn Thị L yêu cầu ông Dương Xuân V và bà Nguyễn Thị Ngọc Đ có trách nhiệm liên đới trả tiền vốn 330.000.000 đồng, lãi tính từ ngày 11/01/2024 cho đến ngày xét xử theo mức lãi suất quy định của pháp luật.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện bao gồm: Biên nhận ngày 11/01/2024, có chữ ký người vay ông V, bà Đ (bản pho to).

Bị đơn: ông Dương Xuân V, bà Nguyễn Thị Ngọc Đ đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Toà án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L vẫn giữ quan điểm như đã trình bày và xác định không còn tài liệu chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

Bị đơn ông Dương Xuân V, bà Nguyễn Thị Ngọc Đ vắng mặt.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng các Điều 288; 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L đối với ông Dương Xuân V và bà Nguyễn Thị Ngọc Đ.

Buộc ông ông Dương Xuân V và bà Nguyễn Thị Ngọc Đ có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị L số nợ vay 330.000.000 đồng và lãi suất phát sinh theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền:

Nguyên đơn tranh chấp với bị đơn về hợp đồng vay tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; và bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện P. Nên, Tòa án nhân dân huyện Phú Tân thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Trước khi phiên toà được mở, bị đơn ông Dương Xuân V và bà Nguyễn Thị Ngọc Đ đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, Cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Dương Xuân V và bà Nguyễn Thị Ngọc Đ theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng vay tài sản:

Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nguyên đơn cho rằng, vào ngày 11/01/2024 ông Dương Xuân V với bà Nguyễn Thị Ngọc Đ vay của bà L số tiền là 330.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, không thời hạn, khi nào cần lấy lại tiền bà L thông báo cho ông V, bà Đ trước 01 tháng, mục đích vay làm kinh tế cho gia đình, quá trình vay ông V, bà Đ không trả vốn và lãi mặc dù bà L có yêu cầu.

Lời khai này của bà L phù hợp với nội dung giấy cho vay tiền có chữ ký tên của ông Dương Xuân V và bà Nguyễn Thị Ngọc Đ.

Quá trình tố tụng Tòa án đã tống đạt các thông báo thụ lý, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn nhận văn bản nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà L và tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Do đó theo quy định Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì: chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có giá trị pháp lý. Căn cứ vào nội dung của biên nhận thì có đủ cơ sở để xác định ông Dương Xuân V và bà Nguyễn Thị Ngọc Đ có vay của bà Nguyễn Thị L số tiền 330.000.000 đồng. Vì vậy, bà L yêu cầu ông V, bà Đ có nghĩa vụ trả vốn 330.000.000 đồng và lãi suất theo quy định là có cơ sở. Đồng thời, cho đến thời điểm xét xử ông V, bà Đ cũng không cung cấp cho Tòa án được tài liệu, chứng cứ chứng minh đã trả số tiền còn nợ. Việc, ông V, bà Đ vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên Tòa án chỉ căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong vụ án để giải quyết.

2.2. Xét thấy, hợp đồng vay tài sản được các bên xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp với Điều 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Do ông V, bà Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ vốn 330.000.000 đồng và lãi phát sinh là có căn cứ nghĩ nên chấp nhận.

2.3. Về tiền lãi phải trả, mức lãi, nguyên đơn yêu cầu trả lãi theo quy định pháp luật do bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ kể từ ngày 11/01/2024 đến ngày Toà án xét xử, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn nên buộc bị đơn có trách nhiệm trả nợ vốn và lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Nợ lãi mà ông V, bà Đ phải thanh toán từ ngày 11/01/2024 đến ngày 12/08/2024 (ngày xét xử sơ thẩm): 330.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 07 tháng = 19.173.000 đồng

Như vậy, tổng nợ gốc và nợ lãi mà ông V, bà Đ phải thanh toán cho bà L là: 330.000.000 đồng + 19.173.000 đồng = 349.173.000 đồng.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 17.458.000 đồng.

Bà L không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho bà L số tiền tạm ứng án phí đã nộp 8.250.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 227; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463; 466; 468; 288 Bộ luật dân sự năm 2015;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L đối với ông Dương Xuân V và bà Nguyễn Thị Ngọc Đ.

    Buộc ông Dương Xuân V và bà Nguyễn Thị Ngọc Đ có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị L (D) số tiền nợ 349.173.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Dương Xuân V và bà Nguyễn Thị Ngọc Đ phải chịu 17.458.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền tạm ứng án phí 8.250.000 đồng mà bà L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án TU/2022/0006897 ngày 08/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

  3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng được sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 207/2024/DS-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 207/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger