|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG Bản án số: 207/2024/HN-ST Ngày: 09/7/2024 V/v "Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: bà Hoàng Thị Thiện Lai, bà Đào Thị Thu Vân
- Thư ký phiên tòa: ông Quách Thuận An, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kiều Tiên, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 260/2024/TLST-HN ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 320/2024/QĐXXST-HN ngày 03 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Võ Thị Mỹ K, sinh năm 1997, cư trú: số B, ấp A, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: ông Huỳnh Thanh N, sinh năm 1996, cư trú: số B, khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 08/4/2024, nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ K trình bày:
Bà và ông Huỳnh Thanh N, tự tìm hiểu và tiến tới hôn nhân, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 9/2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông N chỉ lo ăn chơi, cờ bạc, rượu chè, không lo làm ăn, ngoài ra ông N còn có mối quan hệ với những người phụ nữ khác. Trước đây khoảng tháng 12/2023, bà K có khởi kiện ly hôn với ông N nhưng sau đó ông N năn nỉ và hứa sẽ thay đổi nên bà K rút đơn khởi kiện cho ông N cơ hội hàn gắn nhưng từ thời điểm đó đến nay ông N vẫn không thay đổi, mặc dù cha mẹ hai bên có khuyên ngăn nhưng không được. Do tình cảm không còn, nay bà yêu cầu ly hôn với ông N.
- Về con chung: có 01 con chung tên Huỳnh Ngọc Kim A, sinh ngày 15/5/2018, hiện cháu A đang sống với bà K. Khi ly hôn, bà K yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bà K đi làm ăn ở xa nên yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt của bà, bà yêu cầu được ly hôn với ông N và tiếp tục nuôi cháu Kim A, không yêu cầu ông N cấp dưỡng, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà K đối với ông N. Về quan hệ con chung, bà K được tiếp tục chăm sóc con chung tên Huỳnh Ngọc Kim A, sinh ngày 15/5/2018, ông N không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Võ Thị Mỹ K có đơn yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Thanh N, ông N cư trú khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Bà Võ Thị Mỹ K có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà K. Riêng ông Huỳnh Thanh N đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà K và ông N quen biết tìm hiểu nhau sau đó tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang nên quan hệ hôn nhân giữa bà K và ông N là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà K xác định thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 9 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do ông N không lo làm ăn, chỉ lo đi chơi, cờ bạc, có người phụ nữa khác và bà N đã làm đơn xin ly hôn vào tháng 12 năm 2023. Sau đó hai bên gia đình khuyên ngăn nên bà K đã rút lại đơn khởi kiện để tạo cơ hội cho ông N hàn gắn. Sau khi rút đơn khởi kiện, ông N vẫn không quan tâm vợ con nên bà làm đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông N.
Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống do ông N thường xuyên đi chơi, uống rượu, không chăm lo gia đình từ đó bà K và ông N phát sinh mâu thuẫn, bà N đã làm đơn khởi kiện vào tháng 12 năm 2023 nhưng do gia đình hai bên khuyên ngăn nên bà N rút đơn khởi kiện để tạo cơ hội cho ông N nhưng ông N vẫn không quan tâm vợ con. Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng nên bà N yêu cầu ly hôn với ông N là có căn cứ theo quy định Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà K.
[2.2] Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Huỳnh Ngọc Kim A, sinh ngày 15/5/2018, hiện cháu A đang sống với bà K. Xét thấy, con chung đang được bà K chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần, giao cháu Huỳnh Ngọc Kim A cho bà K tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà K không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung: bà K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.
[2.4] Về quan hệ nợ chung: ghi nhận bà K xác định không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2.5] Về án phí sơ thẩm: căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà K phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Mỹ K.
- Về quan hệ hôn nhân: bà Võ Thị Mỹ K được ly hôn với ông Huỳnh Thanh N.
Giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 15/02/2017 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Võ Thị Mỹ K và ông Huỳnh Thanh N không còn giá trị pháp lý.
- Về quan hệ con chung:
Bà Võ Thị Mỹ K được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Ngọc Kim A, sinh ngày 15/5/2018. Ông Huỳnh Thanh N không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Bà Võ Thị Mỹ K cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Huỳnh Thanh N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về án phí sơ thẩm:
Bà Võ Thị Mỹ K phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015341 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 08 tháng 4 năm 2024.
Ông Huỳnh Thanh N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuyền |
Bản án số 207/2024/HN-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 207/2024/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 260/2024/TLST-HN ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 320/2024/QĐXXST-HN ngày 03 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: bà Võ Thị Mỹ K, sinh năm 1997, cư trú: số B, ấp A, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (có đơn xin vắng mặt). 2. Bị đơn: ông Huỳnh Thanh N, sinh năm 1996, cư trú: số B, khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
