Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 207/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08-8-2024

V/v ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Mạnh Hùng

Bà Nguyễn Thị Luyến

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 200/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thúy A; nơi ĐKHKTT: Số H khu T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Theodor-Heuss-Straße 126 66119 Saarbrücken, Cộng hòa Liên bang Đ; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hiền M; nơi thường trú: Theodor-Heuss-Straße 126 66119 Saarbrücken, Cộng hòa Liên bang Đ; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện (đã được hợp pháp hóa lãnh sự) và bản tự khai, nguyên đơn là chị Phạm Thúy A trình bày:

Chị Phạm Thúy A và anh Nguyễn Hiền M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận H, thành phố Hải Phòng vào ngày 04/11/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại Việt Nam một thời gian ngắn, sau đó anh Nguyễn Hiền M trở về Đ và làm thủ tục bảo lãnh cho chị sang đoàn tụ. Do khoảng cách địa lý xa xôi, vợ chồng mỗi người ở một nơi nên ngày càng ít liên lạc và tình cảm phai nhạt dần. Đến đầu năm 2021, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp. Đến tháng 02 năm 2021, chị Thúy A sang Đức để đoàn tụ vợ chồng nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không đạt kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Thúy A đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị Thúy A được ly hôn với anh Nguyễn Hiền M.

Về con chung: Chị Phạm Thúy A và anh Nguyễn Hiền M không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Phạm Thúy A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các bản tự khai đã được hợp pháp hóa lãnh sự, bị đơn là anh Nguyễn Hiền M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Thúy A về quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng. Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh Nguyễn Hiền M đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phạm Thúy A.

Về con chung: Anh Nguyễn Hiền M và chị Phạm Thúy A không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Nguyễn Hiền M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thúy A có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Hiền M. Nguyên đơn là chị Phạm Thúy A và bị đơn là anh Nguyễn Hiền M hiện đang sinh sống tại Cộng hòa Liên bang Đ, chị Thúy A có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Hải Phòng. Do vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn”. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm c khoản 1 Điều 40; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Phạm Thúy A và bị đơn là anh Nguyễn Hiền M vắng mặt nhưng cùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thúy A và anh Nguyễn Hiền M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận H, thành phố Hải Phòng vào ngày 04/11/2019. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống, chị Thúy A và anh Nguyễn Hiền M phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp, vợ chồng mỗi người ở một nơi nên tình cảm phai nhạt dần. Nay cả hai anh chị đều xác định không còn tình cảm vợ chồng, vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi không ai còn quan tâm đến ai nên cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thúy A về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Hiền M.

[3] Về con chung: Chị Phạm Thúy A và anh Nguyễn Hiền M cùng xác nhận anh chị không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị Phạm Thúy A và anh Nguyễn Hiền M không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thúy A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thúy A và anh Nguyễn Hiền M được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thúy A.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thúy A được ly hôn anh Nguyễn Hiền M.

1.2. Về con chung: Chị Phạm Thúy A và anh Nguyễn Hiền M cùng xác nhận anh chị không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

1.3. Về tài sản chung: Chị Phạm Thúy A và anh Nguyễn Hiền M không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thúy A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000519 ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thúy A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Chị Phạm Thúy A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Anh Nguyễn Hiền M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND quận Hải An, thành phố Hải Phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thúy Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 207/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 207/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger