|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 207/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/9/2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- ĐỒNG NAΙ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1231/2025/TL-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2025/QĐ-TA ngày 28 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thái Thị Hương L, sinh năm 1988;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Phi H, sinh năm 1979.
Địa chỉ: B, đường C, khu phố E, xã X, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: 6, đường C, khu phố H, phường T, tỉnh Đồng Nai.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn Thái Thị Hương L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng kết hôn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới vào năm 2010. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì đến năm 2015 lại thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và lối sống. Vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Hiện hai vợ chồng đã sống ly thân được 05 năm, mỗi người đều có cuộc sống riêng không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau nữa. Nay bà xác định tình cảm với ông H không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Có 03 con chung là Nguyễn Thái Gia H1, sinh ngày 22/12/2016; Nguyễn Thái Gia H2, sinh ngày 28/8/2011 và Nguyễn Thái Lan A, sinh ngày 09/02/2018. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Nguyễn Phi H đến Tòa làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Phi H vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Bị đơn thực hiện không đúng.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của bà L. Về con chung: Có 03 con chung là Nguyễn Thái Gia H1, sinh ngày 22/12/2016; Nguyễn Thái Gia H2, sinh ngày 28/8/2011 và Nguyễn Thái Lan A, sinh ngày 09/02/2018 được bà L trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời ông H không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Bà Thái Thị Hương L yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Phi H. Căn cứ vào Điều 28, Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”; bà Thái Thị Hương L là nguyên đơn, ông Nguyễn Phi H là bị đơn.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Thái Thị Hương L nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Phi H hiện đang cư trú tại phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai). Căn cứ Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
[3] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Thái Thị Hương L có đơn xin vắng mặt; Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật, nhưng ông Nguyễn Phi H vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị Hương L và ông Nguyễn Phi H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố B tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 48, quyển số 01/2010, ngày 21/4/2010 nên áp dụng Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định là hôn nhân hợp pháp.
Theo bà L trình bày, quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân chủ yếu là vì vợ chồng bất đồng về quan điểm sống và lối sống tính cách không hợp nên dẫn đến cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi vả dẫn đến gia đình luôn căng thẳng, bất hòa. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông H đến Tòa làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H vẫn vắng mặt, cho thấy ông H không muốn níu kéo cuộc hôn nhân này. Mặt khác, theo Biên bản xác minh nơi hai vợ chồng đang cư trú trước khi ly hôn thì địa phương cho biết trong quá trình sống chung giữa hai vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân cụ thể thì địa phương không nắm rõ do đương sự không trình báo nhưng vì giữa hai vợ chồng hiện đang không sống chung. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông H đã thật sự trầm trọng, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà L xin ly hôn với ông H là có cơ sở. Do đó, Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.
[3] Về con chung: Vợ chồng bà L, ông H có 03 con chung tên Nguyễn Thái Gia H1, sinh ngày 22/12/2016, Nguyễn Thái Gia H2, sinh ngày 28/8/2011 và Nguyễn Thái Lan A, sinh ngày 09/02/2018, không ai có con riêng, không nhận nuôi con nuôi. Khi ly hôn bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Qua kết quả xác minh và tham khảo lời khai của các cháu thể hiện hiện các cháu đang sống chung với bà L và có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì không lấy được lời khai của ông H và cũng để đảm bảo cuộc sống ổn định cho các cháu nên tạm giao các cháu cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời ông H không cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp. Sau khi ly hôn bà L, ông H vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Ông H có quyền thăm nom con; không ai được cản trở thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản chung: Theo bà L trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bị đơn vắng mặt và chưa có lời khai về tài sản chung, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về nợ chung: Theo bà L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bị đơn vắng mặt và chưa có lời khai về nợ chung, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Bà L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị Hương L. Bà Thái Thị Hương L được ly hôn với ông Nguyễn Phi H.
- Về con chung: Giao 03 con chung của bà và ông H là Nguyễn Thái Gia H1, sinh ngày 22/12/2016, Nguyễn Thái Gia H2, sinh ngày 28/8/2011 và Nguyễn Thái Lan A, sinh ngày 09/02/2018 cho bà Thái Thị Hương L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tạm thời ông Nguyễn Phi H không cấp dưỡng nuôi con.. Vì không trực tiếp nuôi con nên ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Bà Thái Thị Hương L phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007274 ngày 03/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thanh Xuân |
Bản án số 207/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 207/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LH