TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 207/2025/HNGĐ-ST Ngày 19 - 6 - 2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Bích.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Cao Thanh Tâm
- 2. Ông Nguyễn Hữu Tố
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025, về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 597A/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Hồng N, sinh năm 1988
- Bị đơn: Ông Võ Tấn H, sinh năm 1985
Số căn cước công dân: [...] ngày 28/9/2021
Quê quán: Phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ: Khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Số chứng minh nhân dân: [...]
Địa chỉ: Khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
(Bà N1 có mặt; ông H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng N1 trình bày:
Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Hồng N1 và ông Võ Tấn H tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H ( Nay là phường H), thị xã H, tỉnh Bình Định vào ngày 09 tháng 4 năm 2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau nên tình cảm ngày càng rạn nứt, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nay bà N1 yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Võ Phạm Thanh T, sinh ngày 17/7/2010 và Võ Phạm Thảo N2, sinh ngày 26/9/2012. Khi ly hôn, bà N1 yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về phía bị đơn ông Võ Tấn H: Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H theo quy định của pháp luật nhưng ông H luôn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, không có tài liệu, chứng cứ, lời khai của bị đơn. Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các căn cứ của pháp luật để xem xét giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật.
- + Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- + Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ các Điều 17,18,19, 21, 56, khoản 2 Điều 81, khoản 2 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Hồng N1 về việc ly hôn với ông Võ Tấn H.
Về con chung: Giao hai con chung là cháu Võ Phạm Thanh T, sinh ngày 17/7/2010 và Võ Phạm Thảo N2, sinh ngày 26/9/2012 cho bà N1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N1 không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi hai con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Bà N1 phải chịu theo quy
định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dân sự được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà N1 yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Võ Tấn H; bị đơn ông H cư trú tại phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H nhưng ông H vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
[2] Xét yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Hồng N1 và ông Võ Tấn H tự nguyện tìm hiểu nhau và đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là phường H), thị xã H, tỉnh Bình Định ngày 09 tháng 4 năm 2010, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 27/2010 ngày 09/4/2010. Căn cứ vào Luật Hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa bà N1 và ông H là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bà N1 cho rằng nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, từ đó tình tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nay bà N1 yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H để ổn định cuộc sống. Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H theo quy định pháp luật nhưng ông H luôn vắng mặt, từ diễn biến trên chứng tỏ ông H đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân của mình và không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa bà N1 và ông H đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà N1 yêu cầu được ly hôn với ông H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[2.2] Về yêu cầu nuôi con chung: Bà N1 và ông H có 02 con chung tên Võ Phạm Thanh T, sinh ngày 17/7/2010 và Võ Phạm Thảo N2, sinh ngày 26/9/2012. Ly hôn, bà N1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bà N1 có việc làm, thu nhập ổn định, cháu T và cháu N2 hiện đang ở ổn định với bà N1, đồng thời hai cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu T và cháu N2 nên cần giao hai cháu cho bà N1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và
gia đình. Ghi nhận tự nguyện nuôi con của bà N1 không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà N1 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[4] Phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Hồng N1 được ly hôn ông Võ Tấn H.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Võ Phạm Thanh T, sinh ngày 17/7/2010 và Võ Phạm Thảo N2, sinh ngày 26/9/2012 cho bà N1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện nuôi con của bà N1, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi hai con.
Sau khi ly hôn, ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình: Bà Phạm Thị Hồng N1 phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) sung vào công quỹ Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N1 đã nộp theo biên lai thu số: 0007090 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Ngọc Bích |
Bản án số 207/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 207/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn Phạm Thị Hồng N
