TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 207/2024/HSST
Ngày: 01/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Và Kíu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Dậu
Ông Đặng Quang Hoạch
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 210/2024/TLST-HS ngày 10/7/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1972024/QĐXXST-HS ngày 19/7/2024 đối với bị cáo:
1/ Bùi Thanh T . Giới tính: Nam, sinh năm 1982. Tại: Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp T, xã C, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông Bùi Văn Th, sinh năm: 1958 (Còn sống).
Con bà Lê Thị Á, sinh năm: 1960 (Còn sống).
Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Vợ thứ nhất: Trần Thị Thanh H, sinh năm: 1983 (Đã ly hôn).
Vợ thứ hai: Nguyễn Thị Ánh N t, sinh năm: 1982 (Đã ly hôn).
Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2017.
Nhân thân: Ngày 02/7/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 13/9/2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trảng Bom.
2/ Võ Văn S . Giới tính: Nam, sinh năm 2005. Tại: Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 06/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do.
1
Con ông Võ Văn L, sinh năm: 1970 (Còn sống).
Con bà Ngô Thị T, sinh năm: 1980 (Còn sống).
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Bị cáo chưa có vợ, con
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trảng Bom.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Mai L, sinh năm 1971; ông Trần Văn H, sinh năm 1967; anh Trần Quang D . Cùng trú tại: Ấp Tân Hưng, xã Đồi 61, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Văn S và Bùi Thanh T là bạn và là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 21 giờ ngày 04/04/2024, S đến phòng trọ của T tại ấp T, xã C mượn tiền để đi chuộc điện thoại cầm trước đó, Thế đồng ý cho S mượn tiền. Sau đó, T nhờ Sang điều khiển xe 60B8-388.48 chở T đến khu vực Chợ Trảng Bom thuộc khu phố 1, thị trấn Trảng Bom để T trả nợ. Trên đường đi, Thế liên lạc điện thoại cho một người tên “Mung” (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) ma túy thì M đồng ý hẹn giao ma túy tại khu vực lô cao su ở đội B, ấp T, xã Đồi 61, huyện Trảng Bom. Sau đó, T đưa 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) cho S và nói S đến khu vực lô cao su ở đội B, ấp T, xã Đồi 61 gặp đối tượng M mua ma túy do Thế đã liên hệ mua trước đó thì S đồng ý. Khi đến chợ Trảng Bom, T xuống xe đứng đợi bạn để trả nợ, còn S cầm tiền và điều khiển xe mô tô 60B8-388.48 đến khu vực lô cao su ở đội B, ấp Tân Phát, xã Đồi 61, huyện Trảng Bom gặp M đưa cho M số tiền 200.000 đồng mua được 01 đoạn ống nhựa màu xanh hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, S cất ma túy vào bao thuốc lá JET rồi giấu vào lưng quần và điều khiển xe 60B8-388.48 quay lại đón T chở về xã C để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã C thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang, thu giữ trên lưng quần của S 01 bao thuốc lá hiệu JET, bên trong có 01 ống nhựa màu xanh chứa 0,2861 gam ma túy, loại Methamphetamine. Quá trình điều tra Võ Văn S và Bùi Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 đoạn ống hút màu xanh (kích thước khoảng 04cm) bên trong có chứa tinh thể màu trắng;
- - 01 xe mô tô biển số 60B8-388.48;
2
- - 01 điện thoại Vivo có gắn sim số 0343.375.595 của Võ Văn S ;
- - 01 điện thoại Oppo có gắn sim số 0866.150581 của Bùi Thanh T .
Ngày 05/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định trưng cầu giám định số ma túy thu giữ nên trên.
Tại bản kết luận giám định số 709/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
“Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,2861 gam, loại Methamphetamine.
Ngày 12/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Bùi Thanh T và Võ Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Quá trình điều tra T, S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại bản Cáo trạng số 213/CT-VKS-TB ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Bùi Thanh T, Võ Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đồng thời căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Thanh T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; Võ Văn S từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Đối với 01 (một) phong bì niêm phong sau giám định số: 709/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai, đề nghị Tòa tuyên tịch thu tiêu hủy;
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo gắn sim số 0866.150.581 của Bùi Thanh T đã qua sử dụng là công cụ phạm tội, nên đề nghị Tòa tuyên tịch thu sung công;
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo gắn sim số 0343.375.595 của bị cáo Sang là tài sản của S không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Sang.
- - Đối với 01 xe mô tô biển số 60B8-388.48. Kết quả tra cứu xác định đây là xe mô tô do bà Trần Thị Mai L, sinh năm 1971 ở ấp T, xã Đồi 61, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đứng tên trên giấy đăng ký. Vào khoảng tháng 02/2024 bà L cho cháu là Trần Quang D mượn xe để làm phương tiện đi lại. Ngày 04/4/2024, bị cáo T mượn xe mô tô nói trên của D rồi làm phương tiện phạm tội, thì D và bà L không biết, nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Trảng Bom ra Quyết định trả lại xe mô tô nói trên cho bà L .
Bị cáo Bùi Thanh T, Võ Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
3
Bị cáo T, S không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiệm sát; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng số 213/CT.VKS-HS ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, các tài liệu chứng cứ và vật chứng của vụ án, đã có đủ căn cứ để kết luận:
Vào khoảng 23 giờ 10 phút ngày 04/4/2024, tại ấp T, xã C, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Võ Văn S và Bùi Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép 0,2861 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an xã Cây Gáo tuần tra phát hiện bắt quả tang
Như vậy, đã có đủ căn cứ và cơ sở để xác định hành vi của các bị cáo Bùi Thanh T, Võ Văn S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Các bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng có khối lượng là 0,2861 loại Methamphetamine. Do vậy, các bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước, trực tiếp là hoạt động tàng trữ trái phép và xâm phạm đến an ninh trật tự xã hội nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội.
Bị cáo T là người có nhân thân xấu, bị cáo T đã từng phải chấp hành hình phạt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo T không xem đó là
4
bài học để rèn luyện bản thân mà còn phạm tội. Trong vụ án các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là đồng phạm nhưng ở mức độ giảm đơn, không có sự phân công nhiệm vụ cho nhau, tuy nhiên vai trò của bị cáo T có phần cao hơn vì bị cáo T là người chủ động liên lạc với đối tượng bán ma túy, tự bỏ tiền ra để mua ma túy về sử dụng, do vậy bị cáo Thế có hình phạt cao hơn bị cáo S là phù hợp. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Võ Văn S vào tối ngày 02/4/2024 một mình tại khu vực vườn tràm ở xã T, huyện Trảng Bom; Bùi Thanh T sử dụng ma túy một mình vào ngày 01/4/2024 tại vườn chuối ở ấp T, xã C, huyện Trảng Bom, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với đối tượng tên M là người bán ma túy cho S và T ở xã Đồi 61, huyện Trảng Bom, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với lời khai của Võ Văn S về việc có sử dụng ma túy cùng với Thế trước đó tại quán cà phê L ở ấp T, xã C, huyện Trảng Bom (tại biên bản đối chất ngày 12/04/2024). Tuy nhiên, quá trình điều tra, ngoài lời khai của Sang thì không có chứng cứ nào khác nên Cơ quan Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Trảng Bom không có căn cứ xử lý hình sự đối với bị cáo T về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong sau giám định số: 709/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai.
- - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo gắn sim số 0866.150.581 của Bùi Thanh T đã qua sử dụng.
[5] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Xét, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
5
- Xử phạt: Bị cáo Bùi Thanh T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Võ Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Võ Văn S 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.
3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong sau giám định số: 709/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai.
- - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo gắn sim số 0866.150.581 của Bùi Thanh T đã qua sử dụng.
(Vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/7/2024).
4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Bùi Thanh T, Võ Văn S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Và Kíu |
6
Bản án số 207/2024/HSST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 207/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thanh T và đồng phạm phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
