|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 207/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-7-2024. V/v tranh chấp “Ly hôn, về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hồng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trương Thị Kim Tiến;
- Ông Nguyễn Thanh Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 808/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị T, sinh năm 2000; (có mặt)
- Bị đơn: Ông Bùi Minh T1, sinh năm 1998; (có mặt)
Hộ khẩu thường trú: Ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Chổ ở hiện tại: 666/24/3 L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 24 tháng 6 năm 2024, lời trình bày tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Ngô Thị T trình bày:
Bà T và ông T1 có tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 02/4/2021.
Lúc mới cưới về, vợ chồng thuê nhà trọ ở Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2024, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, phát sinh nhiều mâu thuẫn, không còn tiếng nói chung, không quan tâm chăm sóc vợ con, hay uống rượu, về chửi vợ, hâm dọa, dùng tay đánh vợ. Vợ chồng mẫu thuẫn về tình cảm tiền bạc, ghen tuông vô cớ nên bà T bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ tháng 5/2024 đến nay, từ đó vợ chồng sống ly thân. Nay bà T xin ly hôn với ông T1.
- Về con chung: Có 01 con chung tên là Bùi Gia B, sinh ngày 02/10/2022, hiện con chung đang sống với bà T. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Bùi Gia B, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông T1 trình bày: ông T1 thống nhất như lời trình bày của bà T về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn, về nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng có cãi vã nhau chuyện tình cảm nên bà T bỏ nhà đi 02 lần vào tháng 7/2023 đến tháng 8/2023 vợ quay về, khoảng tháng 6/2024 bà T bỏ về nhà cha mẹ ruột, nên ông T1 có ghen tuông. Ông T1 nhiều lần năn nỉ nhưng bà T không quay về. Nay bà T yêu cầu ly hôn thì ông T1 không đồng ý ly hôn, do còn thương vợ con nên đề nghị cho cơ hội để hàn gắn.
- Về con chung: Có 01 con chung tên là Bùi Gia B, sinh ngày 02/10/2022, hiện đang ở với bà ngoại. Trong trường hợp ly hôn, ông T1 yêu cầu nuôi con và không yêu cầu bà T cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
- Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Bà T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông T1, hiện đang sinh sống tại huyện Đ, tỉnh Long An, quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, về nuôi con”, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, ông T1, bà T có mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
- Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ không thành nên quyết định đưa vụ án ra xét xử.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà T, ông T1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 02/4/2021 nên hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về yêu cầu ly hôn: Trong quá trình chung sống, bà T cho rằng năm 2024, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, phát sinh nhiều mâu thuẫn, không còn tiếng nói chung, không quan tâm chăm sóc vợ con, hay uống rượu, về chửi vợ, hâm dọa, dùng tay đánh vợ. Vợ chồng mẫu thuẫn về tình cảm tiền bạc, ghen tuông vô cớ nên bà T bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ tháng 5/2024 đến nay, từ đó vợ chồng sống ly thân. Nay bà T xin ly hôn với ông T1.
- Về con chung: Bà T và ông T1 xác định có 01 con chung tên là Bùi Gia B, sinh ngày 02/10/2022, hiện con chung đang sống chung với bà T. Khi ly hôn, ông T1 và bà T có tranh chấp về quyền nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, hiện tại con chung đang sinh sống với bà T; con chung chưa đủ 36 tháng tuổi, để đảm bảo cuộc sống bình thường cho con chung cần giao con chung cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông T1 đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004928 ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông T1 cho rằng về nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng có cãi vã nhau chuyện tình cảm nên bà T bỏ nhà đi 02 lần vào tháng 7/2023 đến tháng 8/2023 vợ quay về, khoảng tháng 6/2024 bà T bỏ về nhà cha mẹ ruột, nên ông T1 có ghen tuông. Ông T1 nhiều lần năn nỉ nhưng bà T không quay về. Nay bà T yêu cầu ly hôn thì ông T1 không đồng ý ly hôn, do còn thương vợ con nên đề nghị cho cơ hội để hàn gắn.
Xét thấy, bà T và ông T1 sống ly thân từ tháng 5 năm 2024 cho đến nay. Hơn nữa, từ khi sống ly thân đến nay và tại phiên tòa, ông T1 cũng không tìm ra được biện pháp nào để vợ chồng đoàn tụ, trong khi bà T xác định không còn tình cảm và kiên quyết ly hôn với ông T1. Do đó, xét thấy hôn nhân giữa ông T1, bà T đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông T1 là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị T đối với ông Bùi Minh T1 về việc tranh chấp “Ly hôn, về nuôi con”.
- Về con chung: Buộc ông T1 giao con chung tên Bùi Gia B, sinh ngày 02/10/2022 cho bà T nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì bà T không có yêu cầu.
- Về quyền chăm sóc con chung: Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
- Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004928 ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Bà T đã nộp đủ.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị T được ly hôn với ông Bùi Minh T1.
Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Án xử sơ thẩm, công khai, nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
| Trần Hồng Sơn |
Nơi nhận:
- - Đương sự;
- - TAND tỉnh Long An;
- - VKSND huyện Đức Hòa;
- - UBND xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;
- - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
- - Lưu hồ sơ.
Bản án số 207/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn, về nuôi con
- Số bản án: 207/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị T "ly hôn" Bùi Minh T1
